Categories
Khác

Bộ Tài chính: Thuế nhà chung cư “không như nhiều người hiểu nhầm”

Sau 4 ngày gây “bão” dư luận về đề xuất đánh thuế tài sản lên nhà, đất, ôtô, tối 17-4, Bộ Tài chính lên tiếng về cách tính thuế nhà chung cư rằng “không như nhiều người hiểu nhầm”.


Trước những ý kiến phản ứng mạnh của dư luận về đánh thuế tài sản đối với nhà chung cư, Bộ Tài chính đã giãi bày bằng ví dụ cụ thể về dự kiến cách tích thuế đối với một căn hộ chung cư.

Theo đó, căn hộ chung cư để ở có diện tích 75m2 tại một khu đô thị tại Hà Nội (nhà chung cư 20 tầng) có giá mua theo hợp đồng mua bán là 2,5 tỉ đồng.

Giá đất tại bảng giá đất do UBND cấp tỉnh công bố đối với vị trí thửa đất xây dựng nhà chung cư là 10.000.000 đồng/m2.

Suất vốn đầu tư xây dựng nhà chung cư do Bộ Xây dựng công bố khoảng 9.710.000 đồng/m2.

Theo Dự thảo Dự án Luật Thuế tài sản, giá xác định tính thuế tài sản sẽ không dựa trên giá mua căn nhà là 2,5 tỉ đồng, “như nhiều người hiểu nhầm” mà “giá do nhà nước quy định”.

Chủ căn hộ chung cư sẽ phải nộp hai loại thuế tài sản là nhà và đất.

Đối với chung cư mới xây thì giá tính thuế dự kiến đối với đất của căn chung cư trên là 75m2 x 10.000.000 đồng/m2 x 0,2 (hệ số xác định diện tích đất) = 150.000.000 đồng.

Số thuế tài sản dự kiến phải nộp đối với đất xác định cho căn hộ chung cư trên (với mức thuế suất thuế tài sản dự kiến 0,4%) là 150.000.000 đồng x 0,4% = 600.000 đồng/năm.

Giá tính thuế đối với nhà xác định cho căn hộ chung cư trên là 75m2 x 9.710.000 đồng/m2 = 728.250.000 đồng.

Với ngưỡng không chịu thuế là 700 triệu đồng thì căn hộ chung cư trên phải nộp thuế tài sản đối với nhà phần giá trị là 28.250.000 đồng.

Như vậy, thuế tài sản đối với nhà của căn chung cư là: 28.250.000 đồng x 0,4% = 113.000 đồng/năm.

Như vậy, Tổng số thuế tài sản phải nộp đối với nhà, đất của căn chung cư 75m vuông ở Hà Nội là 713.000 đồng/năm.

Trường hợp khu chung cư đã được đưa vào sử dụng 7 năm thì số thuế đất cho của căn hộ chung cư là 600.000 đồng/năm.

Còn thuế nhà không phải nộp khi tỉ lệ chất lượng mà bộ Xây dựng quy định chỉ còn 80%.

Lý do là giá trị xây dựng căn hộ chung cư chỉ là 75m2 x 9.710.000 đồng/m2 x 80% = 582.600.000 đồng.

Giá trị này nằm ở ngưỡng không chịu thuế.

Như vậy, trường hợp khu chung đã qua sử dụng được 7 năm thì chỉ phải nộp thuế tài sản đối với đất là 600.000 đồng/năm.

Còn thuế tài sản đối với nhà đất nền cũng được dư luận đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, Bộ Tài chính chưa đưa ra ví dụ cụ thể về đề xuất cách tính thuế như thế nào.

Theo Bộ Tài chính, những nội dung về đánh thuế tài sản đối với nhà, đất và ôtô chỉ là hồ sơ Dự án Luật Thuế tài sản bước đầu gửi lấy ý kiến rộng rãi các cơ quan, tổ chức, người dân.

Đây là bước quan trọng để làm cơ sở lập và hoàn thiện đề nghị xây dựng dự án Luật trình cấp có thẩm quyền xem xét trước khi trình Quốc hội bổ sung dự án Luật vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội.

Bộ Tài chính xin ghi nhận các ý kiến tham gia để hoàn thiện hồ sơ dự án.

Categories
Khác Tin tức quốc tế

Chưa nộp phí duy trì trên Hệ thống có được chấm thầu?

Ông Nguyễn Khoa (Đà Nẵng) đang tham gia thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu và phát hiện đơn vị tư vấn lập hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu chưa nộp phí duy trì trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

Đơn vị tư vấn này đã đăng ký trên Hệ thống nhưng lại hết hiệu lực vào ngày 31/7/2017. Trong khi đó, bên mời thầu lại chỉ định thầu cho đơn vị này thực hiện gói thầu: Lập hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu từ tháng 5/2017, đến ngày 8/10/2017 thì có báo cáo đánh giá kết quả lựa chọn nhà thầu. Trong khoảng thời gian này đơn vị tư vấn lập hồ sơ mời thầu và đánh giá hồ sơ dự thầu chưa nộp phí duy trì.

Ông Khoa hỏi, đơn vị này có đáp ứng yêu cầu về tư cách hợp lệ của nhà thầu không? Kết quả chấm thầu của đơn vị này có được chấp nhận không? Việc trao thầu cho nhà thầu này thì bên mời thầu thực hiện có bảo đảm quy định của Luật Đấu thầu không?

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Điểm d, Khoản 1, Điều 5 Luật Đấu thầu, một trong những điều kiện về tư cách hợp lệ của nhà thầu tham dự thầu là đã đăng ký trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia (Hệ thống).

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 37 Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC ngày 8/9/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính hướng dẫn, bắt đầu từ ngày 1/7/2016, trước thời điểm đóng thầu 2 ngày làm việc, nhà thầu chưa có xác nhận đăng ký thông tin trên Hệ thống không được tham dự thầu đối với các gói thầu, dự án có hình thức lựa chọn nhà thầu quy định tại các Điều 20, 21, 22, 23, 24, 25 và 26 của Luật Đấu thầu.

Theo đó, trường hợp nhà thầu đã có tên trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia thì được coi là đáp ứng yêu cầu về tư cách hợp lệ nêu tại Điểm d, Khoản 1 Điều 5 Luật Đấu thầu.

Trường hợp đơn vị tư vấn chưa nộp phí duy trì thì cần tiến hành nộp phí theo quy định tại Thông tư số 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính.

Categories
Khác Tin tức quốc tế

DoNotPay – luật sư người máy đầu tiên trên thế giới

Thay vì phải thuê luật sư tốn kém hàng trăm đô la, giờ đây người dùng có thể được tư vấn pháp lý miễn phí bằng luật sư người máy DoNotPay (có nghĩa là Không phải trả tiền) do một sinh viên người Mỹ sáng chế. Đây được coi là luật sư người máy đầu tiên trên thế giới.

Thực ra, người máy DoNotPay đã ra mắt từ năm 2015. Tháng 7 này, nó được bổ sung tính năng mới. Giờ đây, người máy này có thể hỗ trợ giải quyết các vấn đề liên quan pháp lý cho khoảng 1.000 vụ kiện. Người dùng có thể giao tiếp với robot thông qua trò chuyện trực tuyến. Tại đây, họ chỉ cần gõ vào những gì họ cần tư vấn, như “Tôi đang tranh cãi với chủ nhà”, hay “Tôi bị quấy rối ở nơi làm việc”… Trong vòng 30 giây, DoNotPay trả lời với những lời khuyên và giải pháp pháp lý.

Luật sư ảo này có thể đưa ra các lựa chọn về cách thức giúp đỡ, như “Gửi cảnh báo”, “Thông báo tới chính quyền”, “Những lời khuyên để tránh bị đuổi khỏi nhà”… Nó cũng có thể kết nối người dùng với sự trợ giúp bên ngoài, như đại diện pháp lý, đối với các trường hợp nghiêm trọng hơn. Hiện nay, DoNotPay có thể cung cấp tư vấn về quyền lợi người tiêu dùng và điều kiện làm việc cho người dân Anh và Mỹ, như quấy rối tại nơi làm việc, khiếu nại gây hiểu nhầm trong quảng cáo…

Cha đẻ của robot này là Joshua Browder, 20 tuổi, sinh ra tại London, đang theo học năm thứ 3 tại Đại học Stanford, Mỹ. Điều khá bất ngờ là Browder hoàn toàn tự học qua YouTube và tham vấn từ các chuyên gia máy tính để có thể chế tạo ra robot có thể hiểu được thông điệp của con người.

Hiện tại, luật sư người máy sẵn sàng đưa ra lời khuyên thông qua trang web DoNotPay, nhưng Browder đang đàm phán với Facebook để kết hợp nó trong ứng dụng Messenger. Theo Browder, đã có hơn 250.000 người sử dụng dịch vụ này. Anh cũng có kế hoạch sử dụng IBM Watson để dịch tiếng Ảrập và tiếng Anh. Browder dự định thuê một số nhà thiết kế, luật sư làm việc tại nhà để hỗ trợ luật sư người máy. “Những tư vấn về pháp lý của người máy sẽ giúp các doanh nghiệp phải đối xử với nhân viên tốt hơn, và các chương trình quyền lợi người tiêu dùng cũng sẽ phải có những điều chỉnh”, anh nói. Năm ngoái, người máy này đã hỗ trợ pháp lý miễn phí cho hàng ngàn người vô gia cư ở Anh.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Đề xuất nâng tuổi hưu nam lên 65, nữ 60

Tại phiên họp Ủy ban Về các vấn đề xã hội ngày 23-4 thẩm tra các báo cáo của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Lao động, thương binh và xã hội Đào Ngọc Dung trình bày sơ bộ đề án cải cách bảo hiểm xã hội chuẩn bị trình Hội nghị Trung ương 7.

Ông Dung cho biết, tính đến cuối năm 2017 có 13,6 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Có khoảng 230.000 doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động, trong khi số liệu cơ quan thuế cung cấp thì cả nước có tới 600.000 doanh nghiệp đang hoạt động.

“Như vậy, còn trên 300.000 doanh nghiệp chưa tham gia bảo hiểm xã hội bắt buột, và theo ước đoán của chúng tôi thì có khoảng 3 triệu người chưa tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc” – Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nói.

Vẫn theo Bộ trưởng, số người tham gia bảo hiểm xã hội mới hiện nay tương đương với số lượng người nhận bảo hiểm xã hội một lần, tức là số vào tương đương với số ra.

“Không có nước nào mà chính sách bảo hiểm xã hội lại thoáng như vậy, đóng ít nhưng hưởng nhiều, đóng thời gian ngắn nhưng lại hưởng dài, ngoài hưởng phần mình đóng lại còn hưởng phần nhà nước hỗ trợ trong đó nữa. Người lao động đóng bảo hiểm xã hội rồi xin rút một lần, một thời gian sau có việc mới lại đóng và sau đó lại xin rút một lần” – ông phân tích.

Trong đề án trình Trung ương, cơ quan tham mưu của Ban Cán sự đảng Chính phủ đề xuất thiết kế chính sách bảo hiểm xã hội “phù hợp với thông lệ quốc tế, thiết kế chính sách công bằng, nếu người đóng bảo hiểm xã hội rút ra sớm thì chỉ được nhận phần do mình đóng thôi”.

Như vậy, người lao động có thể nhận lương hưu khi thời gian đóng thấp hơn mức quy định hiện tại, có thể dưới 20 năm, tất nhiên là chỉ được nhận bảo hiểm xã hội tương ứng với số tiền họ đóng.

“Chúng tôi thiết kế ba tầng, tầng thứ nhất là nhà nước đóng cho các đối tượng chính sách để họ hưởng lương hưu. Tầng thứ hai là bảo hiểm xã hội bắt buộc, giống như quy định hiện hành. Tầng thứ ba là bảo hiểm tự nguyện, người lao động đóng cao hưởng cao” – Bộ trưởng Dung cho hay.

Ông khẳng định, với các phương án trình Trung ương, nếu được đồng ý, phải sửa đổi hệ thống pháp luật hiện hành. Hy vọng với tư duy đổi mới trong thực hiện chính sách BHXH thì độ bao phủ của chính sách này sẽ rộng hơn.

Một trong những bất cập lớn hiện nay được Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết là vẫn có 66% số lao động vẫn nằm trong khu vực phi chính thức, nếu không giải được bài toán này thì rất khó đạt mục tiêu trên 50% người lao động tham gia bảo hiểm xã hội.

Ông nói: Hiện nay khó vận động người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, bởi điều kiện của người lao động trong khu vực phi chính thức vẫn khó khăn.

Hơn nữa, tỉ lệ hỗ trợ của nhà nước còn ít. Trong bảo hiểm y tế thì đối với khu vực nghèo, vùng sâu, bãi ngang, nhà nước đã hỗ trợ tới 46%, một số đối tượng được hỗ trợ toàn bộ bảo hiểm y tế; nếu bảo hiểm xã hội mà hỗ trợ tỷ lệ như vậy, cộng thêm với vận động con cái của họ hỗ trợ, giúp đỡ thì những người lao động ở khu vực nông thôn, vùng khó khăn mới có thể tham gia bảo hiểm xã hội để nhận lương hưu khi về già.

Về tuổi nghỉ hưu, đề án trình Trung ương đặt ra lộ trình để nâng tuổi nghỉ hưu của người lao động. “Tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, chúng tôi đề xuất lộ trình thực hiện để không gây sốc đối với người lao động” – Bộ trưởng khẳng định.

Theo đó, đề án trình hai phương án. Phương án một: nâng tuổi nghỉ hưu của lao động nữ lên 60 và nam lên 62, nhưng lộ trình mỗi năm chỉ nâng thêm 3 tháng.

Phương án hai: nữ nghỉ hưu ở tuổi 60 nhưng độ tuổi nghỉ hưu của nam được nâng lên 65, lộ trình mỗi năm chỉ điều chỉnh nâng thêm 4 tháng.

Được biết, Hội nghị Trung ương 7 sẽ họp vào đầu tháng 5 tới, trước khi Quốc hội khai mạc kỳ họp thứ 5 vào ngày 21-5.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Cách đơn giản để biết Công ty có đóng BHYT cho bạn hay không

Khoản 1 Điều 47 Quyết định 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định: “Không thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) đối với các trường hợp người tham gia đã báo giảm đóng BHYT nhưng tại thời điểm khám bệnh, chữa bệnh thẻ BHYT vẫn còn giá trị sử dụng”.

Mặt khác, theo Công văn 3340/BHXH-ST ngày 08/8/2017, trên thẻ BHYT chỉ in giá trị sử dụng của thẻ từ ngày …/…/… chứ không còn in ngày hết hạn sử dụng (đối với thẻ BHYT đã cấp mà chưa được đổi, cấp lại theo mẫu mới vẫn có giá trị sử dụng đến khi được đổi, cấp lại).
Như vậy, mong muốn biết được Công ty có đóng BHYT cho mình hay không là nhu cầu chính đáng của người lao động. Nay, chúng tôi xin hướng dẫn quý thành viên tra cứu giá trị sử dụng thẻ BHYT của mình, cụ thể như sau:

Bước 1: Truy cập vào địa chỉ www.baohiemxahoi.gov.vn/tracuu/pages/tra-cuu-thoi-han-su-dung-the-bhyt.aspx

Bước 2: Nhập thông tin thẻ BHYT

– Mã thẻ

– Ngày/Năm sinh

– Họ tên (Nhập đầy đủ họ và tên)

– Mã xác thực

Bước 3: Click vào tra cứu

Categories
Khác Tin tức trong nước

Tiền lương, thưởng với cán bộ, công chức trong dịp Lễ sắp tới

Chị Nguyễn Hải Thu Anh có hỏi: “Trong dịp Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4 và 01/5/2018 thì tiền lương, thưởng với công chức nhà nước được tính như thế nào? Có cao hơn năm 2017 hay không?”.

Để phần nào giúp quý thành viên hiểu rõ về vấn đề tiền lương, thưởng của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động (sau đây gọi gọn là người lao động) trong dịp Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4 và 01/5/2018, THƯ VIỆN PHÁP LUẬT xin chi sẻ như sau:

1. Tiền lương ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4 và 01/5/2018

Theo quy định của Bộ luật Lao động 2012 thì Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4 và 01/5/2018 người lao động được nghỉ và hưởng 100% lương (Điểm đ Khoản 1 Điều 115).

Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 97 của Bộ luật Lao động 2012, nếu người lao động làm việc vào ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4 và 01/5/2018 sẽ được hưởng thêm 300% tiền lương (tổng cộng là 400% lương).

Đối với trường hợp người lao động làm thêm vào ban đêm vào ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4 và 01/5/2018 sẽ được hưởng thêm 90% tiền lương của ngày bình thường (Tổng tiền lương được hưởng là 490% tiền lương của ngày bình thường). Xem chi tiết phần hướng dẫn cách tính trong trường hợp này tại Thông tư 23/2015/TT-BLĐTBXH.

Lưu ý: Mức tiền lương này là mức thấp nhất mà người sử dụng lao động trả cho người lao động. Như vậy, khuyến khích người sử dụng lao động trả mức lương cao hơn cho người lao động.

Mức lương cơ sở và mức lương tối thiểu vùng năm nay cao hơn năm 2017. Như vậy, tiền lương ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4 và 01/5/2018 của nhiều đối tượng cũng được điều chỉnh tăng cho phù hợp với quy định.

2. Tiền thưởng ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4 và 01/5/2018

Vấn đề này, được Bộ luật Lao động 2012 quy định tại Điều 103, cụ thể:

1. Tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm và mức độ hoàn thành công việc của người lao động.

2. Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở”

Như vậy, tiền thưởng dịp Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4 và 01/5/2018 của người lao động là không bắt buộc (chỉ mang tính khuyến khích) và do người sử dụng lao động quyết định.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Quy định về điều kiện tách thửa đất

Nếu diện tích tách thửa dưới 30 mét thì không đảm bảo diện tích tối thiểu để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Quyết định số 19/2012/QĐ-UBND ngày 8/8/2012 của UBND Hà Nội, điều kiện tách thửa đất bao gồm:

a) Có chiều rộng mặt tiền và chiều sâu so với chỉ giới xây dựng (đường giới hạn cho phép xây dựng công trình trên thửa đất) từ 3 mét trở lên;

b) Có diện tích không nhỏ hơn 30 m2.

Từ thời điểm ngày 10/4/2009, nếu diện tích được tách thửa dưới 30 mét thì không đảm bảo diện tích tối thiểu để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Diện tích bạn muốn được cấp giấy chứng nhận chỉ có 25m2 là không đảm bảo điều kiện theo quy định trên nhưng diện tích này đã được xác định theo bản án của tòa án từ năm 2007. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 6, Điều 1 Quyết định số 19/2012/QĐ-UBND, Hà Nội cho phép: “Thửa đất đang sử dụng được hình thành từ trước ngày 10/4/2009 (ngày Quyết định số 58/2009/QĐ-UBND của UBND thành phố có hiệu lực thi hành) có diện tích, kích thước nhỏ hơn mức tối thiểu quy định tại khoản 1 điều này, nhưng đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận thì người đang sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận”.

Như vậy, dù diện tích bạn đang làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận chỉ có 25m2 nhưng diện tích này đã được xác định theo bản án của tòa từ năm 2007 tức là trước ngày 10/4/2009. Do đó nếu đảm bảo được điều kiện cấp, người đang sử dụng có thể được cấp giấy chứng nhận.

Điều kiện để được cấp giấy chứng nhận theo quy định tại Điều 50 Luật Đất đai bao gồm:

a) Đất đang được sử dụng ổn định;

b) Có sự xác nhận của chính quyền địa phương không có tranh chấp;

c) Có một trong những giấy tờ sau theo quy định tại điều 50 bao gồm: “Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân”

Trường hợp của bạn, diện tích bạn đang làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đã được sử dụng ổn định, nếu có xác định không tranh chấp của chính quyền địa phương thì diện tích này đáp ứng được các điều kiện trên do đó có thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Con nuôi được hưởng thừa kế như con đẻ

Theo Điều 675 Bộ luật Dân sự, trong trường hợp người để lại di sản thừa kế mất mà không để lại di chúc, việc chia di sản cho những người thừa kế sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Căn cứ Điều 676, những người thừa kế thuộc hàng thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Dựa trên nguyên tắc không phân biệt đối xử trong quan hệ hôn nhân và gia đình, pháp luật quy định những người thừa kế cùng hàng thừa kế sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau mà không phân biệt con đẻ, con nuôi.

Như vậy, kể cả khi chỉ là con nuôi, bạn có quyền hưởng phần di sản thừa kế do bố mẹ nuôi để lại ngang với các con đẻ của bố mẹ nuôi. Tuy nhiên, quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chỉ được xác lập khi:

– Tại thời điểm nhận nuôi con nuôi, việc nuôi con nuôi được đăng ký tại UBND xã, phường, thị trấn nơi thường trú của cha mẹ nuôi hoặc con nuôi;

– Trường hợp việc nuôi con nuôi đã phát sinh trên thực tế mà chưa đăng ký trước ngày 1/1/2011, nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật nuôi con nuôi thì được đăng ký kể từ ngày 1/1/2011 đến hết ngày 31/12/2015 tại UBND cấp xã nơi thường trú của cha mẹ nuôi và con nuôi (căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi).

Khoản 1 Điều 50 quy định điều kiện gồm:

  1. Các bên có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi;
  2. Đến thời điểm Luật này có hiệu lực, quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang tồn tại và cả hai bên còn sống;
  3. Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con.

Như vậy, nếu việc nuôi con nuôi giữa bạn và bố mẹ nuôi của bạn đã được đăng ký theo quy định nêu trên thì quan hệ nuôi con nuôi được xác lập. Do đó bạn có quyền hưởng phần di sản thừa kế do bố mẹ nuôi để lại và ngược lại.

Bạn cũng cần lưu ý rằng, ngay cả trong trường hợp mẹ nuôi đã hoàn tất thủ tục đăng ký nuôi con nuôi trước khi kết hôn, nhưng sau khi kết hôn chồng của mẹ nuôi bạn (tức là bố nuôi) không làm thủ tục đăng ký nuôi con nuôi với bạn thì quan hệ con nuôi giữa bạn và bố nuôi không được xác lập. Hay nói cách khác, việc kết hôn của mẹ nuôi không nghiễm nhiên làm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi giữa bạn và chồng của mẹ nuôi anh.

Do vậy, khi bố mẹ nuôi bạn mất đi mà không để lại di chúc, bạn chỉ có quyền hưởng phần di sản thừa kế do mẹ nuôi để lại mà không được quyền hưởng phần di sản thừa kế của bố nuôi.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Luật quy tài sản trộm cắp ra tiền làm căn cứ truy tố

Nếu định giá theo thời điểm bị can bị bắt hoặc theo thời điểm xét xử, rất có thể do sự trượt giá mà hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo có thể bị xử nhẹ hơn hoặc nặng hơn so với thời điểm phạm tội.

Trong các vụ án về trộm cắp tài sản, tài sản bị trộm cắp rất đa dạng, có thể là tiền, vàng, trang sức, đồ vật, phương tiện… Do vậy luật pháp không thể quy định cụ thể, chi tiết trộm cắp cái gì thì chịu hình phạt bao nhiêu.

Pháp luật cũng không thể quy định bị cáo trộm cái gì phải bồi thường cái đó cho người bị hại (chủ tài sản) do nhiều trường hợp tài sản trộm cắp là vật đặc định, đơn chiếc.

Vì lẽ đó, Bộ luật Hình sự quy định về tội trộm cắp tài sản theo hướng tài sản bị trộm cắp được định giá quy ra tiền đồng để làm căn cứ truy tố, xét xử bị can, bị cáo và bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại số tiền tương đương giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt.

 

Cụ thể, điều 138 Bộ luật Hình sự về tội Trộm cắp tài sản, người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm…”

Do việc truy tố, xét xử các vụ án trộm cắp tài sản dựa trên kết quả định giá nên việc định giá phải được thực hiện một cách trung thực, khách quan, công khai và kịp thời.

Về thời điểm định giá giá trị tài sản bị trộm cắp, theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 26/2005/NĐ-CP ngày 2/3/2005 về Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, việc định giá tài sản phải dựa trên các căn cứ sau đây:

– Giá phổ biến trên thị trường tại thời điểm và nơi tài sản bị xâm phạm;

– Giá do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định;

– Giá trên tài liệu, hồ sơ kèm theo tài sản cần định giá, nếu có;

– Giá trị thực tế của tài sản cần định giá;

– Các căn cứ khác về giá trị của tài sản cần định giá.

Như vậy, việc định giá phải tuân theo nguyên tắc hành vi trộm cắp được thực hiện vào thời điểm nào thì tài sản trộm cắp phải được định giá theo thời điểm đó. Nếu định giá theo thời điểm bị can bị bắt hoặc theo thời điểm xét xử, rất có thể do sự trượt giá mà hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo có thể bị xử nhẹ hơn hoặc nặng hơn so với thời điểm phạm tội.

Từ các quy định mà chúng tôi vừa viện dẫn và phân tích thì việc tòa án tuyên bị cáo phải bồi thường cho bạn số tiền tương đương 10 cây vàng theo giá trị thời điểm mất trộm là phù hợp với các quy định của pháp luật về hình sự.