Categories
Khác Tin tức trong nước

Chi nhánh Công ty Luật TNHH Liên Việt tại TP. Hồ Chí Minh thay đổi thông tin đăng ký hoạt động


THÔNG BÁO

Về việc: thay đổi thông tin đăng ký hoạt động của Chi nhánh Công ty Luật TNHH
Liên Việt tại TP. Hồ Chí Minh

  1. Tên tổ chức hành nghề luật sư: CÔNG TY LUẬT TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN LIÊN VIỆT

Tên giao dịch: LegalLink

  1. Tên của chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư: CHI NHÁNH CÔNG TY LUẬT TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN LIÊN VIỆT TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
  • Giấy đăng ký hoạt động số: 41.06.3104/TP/ĐKHĐ do Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh cấp lần đầu ngày 01/07/2019, số lần thay đổi 01 ngày 25/07/2022.
  • Địa chỉ trụ sở mới của chi nhánh: Phòng 1819, lầu 4, Tòa nhà VCCI, 171 đường Võ Thị Sáu, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Trưởng chi nhánh:

Họ và tên: Đỗ Mạnh Trường

Địa chỉ thường trú: Phòng 205, số 2 Lê Phụng Hiểu, phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Thẻ Luật sư số: 1264/LS           Ngày cấp: 21/8/2017

Là thành viên Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội.

  • Lĩnh vực hành nghề:

Tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật

Tư vấn pháp luật

Đại diện ngoài tố tụng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật

Dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp

Thực hiện các dịch vụ pháp lý khác theo quy định pháp luật.

Categories
Khác Tin tức trong nước

THÔNG TIN TUYỂN DỤNG THÁNG 05.2022

THÔNG BÁO

(Về việc tuyển dụng Luật sư và Chuyên viên tư vấn)

Với mục đích mở rộng hoạt động tại Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh và kiện toàn đội ngũ Luật sư tại Thành phố Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp của hoạt động tư vấn trong môi trường cạnh tranh và hội nhập, Công ty Luật TNHH Liên Việt – LegalLink đang có nhu cầu tuyển dụng vị trí Luật sư và Chuyên viên tư vấn có trình độ và kinh nghiệm thực tế (cả tư vấn và tranh tụng). Thông tin tuyển dụng cụ thể như sau:

  1. Tuyển dụng vị trí Luật sư làm việc tại Hà Nội và Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh.

Mô tả công việc:

  • Tham gia tranh tụng bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho khách hàng của Công ty trong các vụ việc Dân sự, Kinh doanh thương mại và Hình sự…
  • Tư vấn pháp lý các vụ việc cho các khách hàng của Công ty (trong các lĩnh vực: Doanh nghiệp, Thương mại, Đầu tư, Đất đai, Tài chính, Ngân hàng, Chứng khoán, Lao động, Hợp đồng, Sở hữu trí tuệ, v.v…).

Yêu cầu:

  • Đã có thẻ Luật sư và có 5 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tranh tụng và tư vấn pháp lý;
  • Ưu tiên ứng viên sử dụng thành thạo ngoại ngữ tiếng Anh (tiếng Anh pháp lý) và đã làm việc tại Văn phòng/Công ty Luật.

Quyền lợi:

  • Mức lương: Theo thỏa thuận (Từ 10 triệu trở lên);
  • Quyền lợi khác theo quy định của Bộ luật Lao động.

Số lượng cần tuyển:  03 Luật sư

  • Trụ sở tại Thành phố Hà Nội: 01 Luật sư
  • Chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh: 02 Luật sư
  1. Tuyển dụng Chuyên viên tư vấn làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh:

Mô tả công việc:

  • Hỗ trợ các Luật sư nghiên cứu hồ sơ các vụ việc Dân sự, Kinh doanh thương mại và Hình sự…
  • Thực hiện các công việc tư vấn về Doanh nghiệp, Đầu tư, Sở hữu trí tuệ…
  • Các công việc khác theo phân công, hướng dẫn của Giám đốc và/hoặc Luật sư.

Yêu cầu:

  • Tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Luật
  • Ưu tiên ứng viên có từ 03 – 05 năm kinh nghiệm, có tiếng Anh chuyên ngành pháp lý

Quyền lợi:

  • Mức lương: 06 – 08 triệu;
  • Quyền lợi khác theo quy định của Bộ luật Lao động.

Số lượng cần tuyển: 03 Chuyên viên tư vấn

  1. Hình thức nộp hồ sơ: Trực tiếp tại Công ty hoặc qua email theo thông tin dưới đây:

Công ty Luật TNHH Liên Việt – LegalLink

Địa chỉ tại Hà Nội: Phòng 911, tòa nhà Viglacera, số 1 Đại lộ Thăng Long, phường Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Địa chỉ tại TP Hồ Chí Minh: Phòng 1819, lầu 4, tòa nhà 171 đường Võ Thị Sáu, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP.HCM.

Email: info@lienvietlaw.com

Điện thoại: 024 3355 8899

Hotline: 098 205 1819 – 096 246 9999

Categories
Chính sách & Sự kiện Góc Hà Nội

GIẤY ĐI ĐƯỜNG và sự ảnh hưởng đến hoạt động hành nghề luật sư

THS.LS. NGUYỄN TIẾN MẠNH – Giám đốc Công ty Luật TNHH Hồng Long, Đoàn Luật sư TP.HCM

Đại dịch Covid 19 tại Việt Nam đã và đang diễn biến rất phức tạp, để ngăn ngừa sự lây lan dịch bệnh, các cơ quan quản lý nhà nước đã ban hành các chỉ thị, văn bản nhằm giới hạn một số hoạt động của công dân cũng như điều chỉnh phương án hoạt động của các doanh nghiệp. Qua quá trình áp dụng trên thực tế nhận thấy, nhiều văn bản có những nội dung khá bất cập, ảnh hưởng đến hoạt động của các cá nhân cũng như các doanh nghiệp, tổ chức trên địa bàn. Trong phạm vi bài viết này, tôi xin được phân tích về những bất cập trong việc cấp giấy đi đường và sự ảnh hưởng đến hoạt động hành nghề luật sư tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) – Thành phố đông dân nhất cả nước và cũng là nơi có tỉ lệ người mắc bệnh cao nhất.

Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Thực tế, khi dịch bệnh xảy ra thì quyền công dân đã bị hạn chế bởi các văn bản dưới luật về giãn cách xã hội, công dân, trong đó bao gồm cả Luật sư đều bị hạn chế việc đi lại.

Việc hạn chế quyền vì lý do sức khỏe của cộng đồng cũng cần được tiếp cận trên trên cơ sở quy định tại các luật về y tế, như Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân – Civillawinfor.

Trong đợt bùng phát dịch Covid -19 lần thứ tư tại Việt Nam, TP.HCM hiện đang áp dụng việc giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, yêu cầu người dân ở nhà, hạn chế tối đa ra ngoài, trừ các trường hợp thật sự cần thiết. Đồng thời, Ủy ban nhân dân TP.HCM và các cơ quan chuyên môn thuộc quyền đã ban hành các văn bản để thể hiện chi tiết việc áp dụng Chỉ thị 16/CT-TTg phù hợp với đặc thù, diễn biến dịch bệnh trên địa bàn. Tuy nhiên, việc áp dụng trên thực tế còn nhiều vướng mắc, nổi bật là những bất cập trong việc xác định các đối tượng được phép hoạt động trong thời gian áp dụng Chỉ thị 16/CT-TTg và quy định về cấp giấy đi đường tương ứng.

Theo các văn bản chỉ đạo mới nhất của UBND TP.HCM về công tác phòng chống dịch Covid-19 thì tổ chức hành nghề Luật sư không thuộc nhóm đối tượng được hoạt động. Tuy nhiên, tại Công văn số 2601/VPCP-KGVX ngày 30/4/2020 của Văn phòng Chính phủ hướng dẫn về thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã xác định rõ Luật sư là nhóm đối tượng được tiếp tục hoạt động để bảo đảm các dịch vụ pháp lý trong thời gian giãn cách xã hội. Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp cũng đã ban hành Công văn số 1221/BTP-PLHSHC ngày 03/4/2020 đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các tổ chức hành nghề công chứng, Luật sư được tiếp tục hoạt động. Ngoài ra, không có bất kỳ văn bản nào giới hạn quyền đi lại của Luật sư nói riêng và tổ chức hành nghề Luật sư nói chung. Như vậy, việc UBND TP.HCM không cho phép Luật sư thuộc nhóm đối tượng hoạt động trong thời gian áp dụng Chỉ thị số 16/CT-TTg là không đảm bảo tính thống nhất đối với Công văn số 2601/VPCP.

Trước bất cập này, ngày 09/9/2021, Liên đoàn Luật sư Việt Nam ban hành Văn bản số 270/LĐLSVN về việc kiến nghị Luật sư thuộc nhóm đối tượng thực hiện dịch vụ thiết yếu của xã hội trong phòng chống dịch Covid-19 gửi Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương để kiến nghị xác định luật sư thuộc nhóm đối tượng thực hiện dịch vụ thiết yếu của xã hội trong phòng chống dịch Covid 19. Trong văn bản này có nêu rõ về việc đề nghị Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương xét nhóm hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý, tham gia tố tụng và trợ giúp pháp lý vào nhóm những dịch vụ thiết yếu trong điều kiện phòng chống dịch Covid 19; kiến nghị đưa Luật sư, người lao động trong các tổ chức hành nghề luật sư vào nhóm được sử dụng giấy đi đường do tổ chức hành nghề luật sư duyệt để được phép di chuyển trên đường nhằm cung cấp dịch vụ pháp lý, tư vấn cho các doanh nghiệp, tổ chức cá nhân đáp ứng yêu cầu hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan quản lý Nhà nước.

Trước đó, ngày 31/8/2021, Đoàn Luật sư TP.HCM cũng đã ban hành Công văn số 61-CV/ĐLS về đề nghị cấp Giấy đi đường cho Luật sư tham gia bào chữa chỉ định. Sau khi nhận được Công văn, Công an TP.HCM đã ra văn bản số 3492/CATP-PV01 về việc giải quyết đề nghị cấp giấy đi đường cho luật sư di chuyển trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội. Theo đó, để đảm bảo thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội trên địa bàn TP.HCM, Công an TP.HCM giải quyết như sau:

  • Giải quyết lưu thông qua các chốt, trạm kiểm soát trong nội ô TP trong thời gian giãn cách xã hội cho các luật sư tham gia tố tụng khi có thông báo yêu cầu, giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng.
  • Khi lưu thông phải đủ có các yếu tố nhận diện: thẻ Luật sư; có Thông báo/giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tổ tụng (tên trên thông báo/giấy triệu tập trùng với tên trên thẻ luật sư); thực hiện khai bảo y tế qua ứng dụng VNEID hoặc qua địa chỉ Website http://suckhoe.dancuquocgia.gov.vn, cung cấp mã QRcode khi đi qua các chốt, trạm kiểm soát.
  • Thời gian di chuyển phù hợp với thời gian làm việc theo thông báo/giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tổ tụng và chấp hành các quy định về phòng, chống dịch của ngành y tế.

Như vậy, có thể thấy Công an TP.HCM chỉ cho phép Luật sư ra đường khi có thông báo yêu cầu, giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng. Câu hỏi đặt ra là việc nhận thông báo, giấy triệu tập từ các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ như thế nào, nếu trong trường hợp Luật sư đang ở nhà và phải đi đến Công ty, Văn phòng để nhận các thông báo, giấy triệu tập này? Ngoài ra, việc hạn chế hoạt động của Luật sư như trên xét dưới một khía cạnh nào đó lại là sự cản trở cho việc hành nghề của Luật sư vì thực tế để cho buổi làm việc của Luật sư tại cơ quan tiến hành tố tụng theo thông báo yêu cầu, giấy triệu tập được hiệu quả thì trước đó Luật sư cũng phải tiến hành việc liên hệ với cơ quan tiến hành tố tụng để sao chụp, nghiên cứu hồ sơ vụ án, liên hệ các cá nhân, tổ chức để xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu… Nếu không được thực hiện những công việc này thì việc hoạt động của Luật sư tại buổi làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng theo thông báo yêu cầu, giấy triệu tập khó lòng đạt được hiệu quả như mong muốn. Chưa kể, hoạt động của Luật sư không chỉ bó hẹp trong phạm vi là người bào chữa, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp trong một vụ án mà còn mở rộng ra dưới nhiều hình thức khác như: Tư vấn Pháp luật cho tổ chức, cá nhân; Đại diện theo ủy quyền, thực hiện dịch vụ Pháp lý khác; Rồi trường hợp Luật sư cư trú, làm việc tại Tp. Hồ Chí Minh nhưng đang tham gia giải quyết các vụ việc ngoài địa bàn Tp. Hồ Chí Minh… những trường hợp này đều không thuộc trường hợp được ra đường của Luật sư. Tất cả những vướng mắc, bất cập này đều chưa được giải quyết thỏa đáng trong văn bản số 3492/CATP-PV01 của Công an TP.HCM.

 

Ngoài ra, vì Luật sư thuộc nhóm đối tượng được hoạt động theo Chỉ thị số 16/CT-TTg nên việc tiêm vaccince ngừa Covid-19 cho Luật sư cũng cần được ưu tiên giải quyết. Trên thực tế, qua nhiều lần Liên đoàn luật sư Việt Nam, Đoàn luật sư tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương kiến nghị nhưng việc ưu tiên giải quyết tiêm vaccince cho luật sư vẫn còn nhiều bất cập, chậm chễ.

Việc cấp giấy đi đường cũng còn nhiều vướng mắc, khó áp dụng. Các quy định về cấp giấy đi đường liên tục thay đổi khiến cho các nhóm đối tượng được hoạt động không kịp thực hiện hoặc không thể thực hiện được do bất cập. Để đáp ứng yêu cầu chống dịch bệnh thì rõ ràng cẩn hạn chế một cách tối đa tình trạng ùn ứ, tắc nghẽn ở các nơi cấp phát, xin giấy đi đường hoặc các chốt trạm kiểm dịch, vừa đảm bảo tuân thủ quy định 5K của nhà nước đưa ra, vừa hạn chế các thủ tục hành chính mà các cá nhân, doanh nghiệp phải thực hiện để có thể được đi lại trong mùa dịch. Vì thế, cần có những biện pháp thay thế việc ban hành Giấy đi đường để đảm bảo công tác phòng chống dịch bệnh. Chẳng hạn như kiểm soát việc di chuyển của người dân thông qua một ứng dụng sẽ hạn chế được việc tụ tập đông người, tránh tình trạng tắc nghẽn giao thông. Ngày 10/9/2021, Công an TP.HCM đã có Công văn số 3489/CATP-PC06 về việc phối hợp triển khai ứng dụng di động (app mobile) với tên là VNEID để khai báo qua phần mềm di chuyển nội địa phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn Thành phố, đây cũng là một phương án mang tính khả thi, phù hợp hơn nhiều so với việc cấp Giấy đi đường như trước kia. Tuy nhiên, cũng cần lưu lý khi chuyển hình thức quản lý điều kiện đi đường sang dạng ứng dụng điện tử, phải đảm bảo việc cập nhật thông tin kịp thời, thống nhất sử dụng một ứng dụng duy nhất, đảm đảm việc hoạt động của ứng dụng được ổn định. TP.HCM hiện cũng đang xây dựng phương án “Thẻ xanh Covid” làm công cụ thống nhất và chủ yếu để kiểm soát các thành phần dân cư trong quá trình mở của phục hồi kinh tế, thiết nghĩ việc này cần có sự phối hợp thống nhất triển khai không chỉ riêng ở TP.HCM mà còn ở tất cả các tỉnh thành khác trên phạm vi cả nước vì không thể phục hồi kinh tế mà không có sự giao thương qua lại của dân cư giữa các tỉnh thành với nhau. Riêng đối với hoạt động đặc thù của nghề nghiệp Luật sư là rộng khắp cả nước, vì vậy đòi hỏi đặt ra là cần có một quy chuẩn chung áp dụng cho Luật sư được hoạt động trên phạm vi toàn quốc trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội để phòng chống dịch bệnh Covid – 19.

Có thể thấy, trước những khó khăn, vướng mắc nêu trên, trong bối cảnh dịch bệnh Covid -19 diễn biến phức tạp, việc họp bàn, thống nhất và đưa ra những văn bản, quyết định một cách kịp thời nhằm hạn chế sự lây lan, sớm kiểm soát được dịch bệnh là một việc cấp thiết và rất quan trọng. Tuy nhiên, việc ban hành những văn bản, quyết định để quản lý, điều hành cần phải phù hợp với những quy định, văn bản của cấp trên đã ban hành, đồng thời không được trái với các quy định của pháp luật. Hơn nữa, những văn bản, quyết định được ban hành có ý nghĩa hướng tới việc quản lý, điều hành những lĩnh vực, giải quyết được các vấn đề trên thực tế; chính vì vậy mà tính thực tiễn và mức độ khả thi của các quy định cần được chú trọng và họp bàn, xem xét, lấy ý kiến, tham mưu một cách kỹ lưỡng trước khi chính thức ban hành và có hiệu lực. Ngoài ra, ý nghĩa của hoạt động quản lý nhà nước là nhằm hướng tới mục đích xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo chiều hướng tích cực. Hoạt động quản lý nhà nước cần được tiến hành dựa trên cơ sở Hiến pháp nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tôn trọng những quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phải loại bỏ tư duy “Không quản được thì cấm” hoặc đưa ra những quy định thiếu tính khả thi khi áp dụng vào thực tế.

SOURCE: Tác giả cung cấp

Categories
Kiến thức pháp luật Nghiên cứu và bình luận

Bảo hộ công dân Việt Nam làm việc ở nước ngoài theo các điều ước quốc tế về hợp tác lao động

Nguyễn Thị Hương Lan – Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao

Bảo hộ công dân (BHCD) làm việc ở nước ngoài theo các điều ước quốc tế về hợp tác lao động là nhu cầu của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Theo đó, việc hoàn thiện các thiết chế BHCD cần không ngừng được tăng cường trong thời gian tới.

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định: “Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ”. Luật Quốc tịch Việt Nam ghi nhận: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài. Các cơ quan nhà nước ở trong nước, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm thi hành mọi biện pháp cần thiết, phù hợp với pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế để thực hiện sự bảo hộ đó”. Theo quy định trên, hệ thống các cơ quan chức năng thực hiện công tác BHCD ngày càng được kiện toàn, nâng cao chất lượng và số lượng. Trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện mọi biện pháp cần thiết phù hợp với pháp luật sở tại, luật pháp và thông lệ quốc tế, pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền và lợi ích của công dân Việt Nam ở nước ngoài được quy định khá rõ. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thông qua các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài (cơ quan đại diện) thi hành mọi biện pháp để công dân Việt Nam được hưởng đầy đủ các quyền và lợi ích theo pháp luật nước tiếp nhận, điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước đó ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế. Khi các quyền và lợi ích chính đáng của công dân Việt Nam bị xâm phạm, cơ quan đại diện có nghĩa vụ thi hành mọi biện pháp để khôi phục những quyền và lợi ích chính đáng đó.

Thực trạng công tác bảo hộ công dân Việt Nam đi lao động ở nước ngoài

Bộ Ngoại giao, trực tiếp là Cục Lãnh sự và Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, có nhiệm vụ thực hiện chức năng bảo hộ quyền lợi công dân Việt Nam ở nước ngoài. Cục Lãnh sự thực hiện các chức năng liên quan đến BHCD như: Quản lý nhà nước về hoạt động di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài; bảo hộ lãnh sự đối với công dân, pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài; hướng dẫn, chỉ đạo các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam xuất cảnh và cư trú ở nước ngoài. Để tăng cường hiệu quả công tác BHCD, Phòng Bảo hộ công dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao được thành lập vào tháng 4-2012, là đầu mối giải quyết các vấn đề liên quan đến BHCD Việt Nam ở nước ngoài. Bên cạnh đó, Cổng thông tin điện tử về công tác lãnh sự do Cục Lãnh sự quản lý, đăng tải các thông tin về BHCD, đưa ra các cảnh báo cần thiết cho công dân để phòng ngừa, tránh các rủi ro, thảm họa có thể gây nguy hiểm đến tính mạng khi họ xuất cảnh và cư trú ở nước ngoài. Tổng đài điện thoại hỗ trợ công tác BHCD và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài đi vào hoạt động từ tháng 2-2015, tiếp nhận tất cả các cuộc gọi cung cấp thông tin, phản ánh yêu cầu, đề nghị giúp đỡ công dân và pháp nhân Việt Nam ở ngước ngoài.

Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài là cơ quan cấp tổng cục trực thuộc Bộ Ngoại giao, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Theo đó, Ủy ban có nhiệm vụ tổng hợp, đánh giá tình hình cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam ở nước ngoài ổn định cuộc sống, hòa nhập xã hội sở tại, thực hiện đại đoàn kết dân tộc; tổ chức, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài trong mối liên hệ với trong nước. Qua thực tiễn cho thấy, việc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam được các cơ quan chức năng Việt Nam tiến hành chủ động và khá bài bản. Công tác này cơ bản đều được thực hiện thông qua cơ chế chỉ đạo, điều hành trực tiếp từ Bộ Ngoại giao (Cục Lãnh sự) tới các cơ quan đại diện có liên quan.

Các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đóng vai trò then chốt trong thực hiện hoạt động BHCD Việt Nam ở nước ngoài. Cơ quan đại diện được Chính phủ thành lập, căn cứ vào yêu cầu, hoạt động, quan hệ đối ngoại, trên cơ sở thỏa thuận với quốc gia, tổ chức quốc tế tiếp nhận và do Bộ Ngoại giao trực tiếp quản lý. Cơ quan đại diện thực hiện nhiệm vụ lãnh sự (bao gồm hoạt động bảo hộ lãnh sự) và nhiệm vụ hỗ trợ, bảo vệ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Trong lĩnh vực lao động, Cục Quản lý lao động ngoài nước thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có trách nhiệm giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; ban quản lý lao động trực thuộc cơ quan đại diện Việt Nam do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ thành lập ở những nước, khu vực có nhiều lao động Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam có ban quản lý lao động ở 6 quốc gia và vùng lãnh thổ có đông lao động Việt Nam đang làm việc, gồm: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Ma-lai-xi-a, Các tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất (UAE) , Ả-rập Xê-út. Đối với các nước chưa thành lập ban quản lý lao động thì cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại sẽ thay mặt Nhà nước quản lý và hỗ trợ giải quyết các vấn đề liên quan tới người lao động Việt Nam đang làm việc tại nước đó.

Công tác BHCD thời gian qua đạt được những kết quả tích cực, bên cạnh sự nỗ lực của các cơ quan chức năng Việt Nam ở ngoài nước, còn có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng ở nước sở tại. Hầu hết các nước có người lao động Việt Nam sinh sống và làm việc đều tạo điều kiện tối đa cho công tác BHCD. Một số nước có nhiều công dân đi làm việc ở nước ngoài hoặc lượng người di cư đông tương tự như Việt Nam đã thiết lập những cơ chế linh hoạt và hiệu quả, như thành lập ra cơ quan chuyên trách. Xri Lan-ca thành lập Ủy ban cố vấn cấp cao với sự tham gia của các bộ, ngành, tổ chức tư nhân, công đoàn, các tổ chức xã hội, ủy ban điều phối liên bộ được thành lập để thúc đẩy công việc qua các đầu mối từ các bộ, ngành chủ chốt. Theo đó, cơ quan này có thẩm quyền đưa ra những quyết định về tác chiến hoặc trực tiếp giao nhiệm vụ cho cơ quan chức năng khi có vụ, việc xảy ra; có thể đề ra quy định về chế độ trao đổi, cập nhật thông tin, thành lập đội phản ứng nhanh giữa các cơ quan liên quan để giải quyết vụ, việc.

Ở nước ta, khi có tình huống cần phải BHCD thì nhiều biện pháp nghiệp vụ đã được các cơ quan đại diện chủ động triển khai, góp phần tích cực, hiệu quả cho công tác BHCD; có thể kể đến, như thường xuyên trao đổi với cơ quan chức năng nước sở tại tạo thuận lợi cho công dân Việt Nam sinh sống, học tập, làm ăn hợp pháp; kịp thời BHCD khi bị bắt, tạm giữ, tạm giam do vi phạm pháp luật nước sở tại; hỗ trợ, giúp đỡ đối với trường hợp gặp khó khăn; vận động hội đoàn người Việt Nam hỗ trợ tích cực cho công tác BHCD; cử cán bộ tham dự các phiên tòa để bảo vệ quyền lợi cho người lao động và yêu cầu phía người sử dụng lao động, công ty bảo hiểm bồi thường cho công dân khi gặp tai nạn lao động; đưa tin khuyến cáo công dân và cử cán bộ trực điện thoại đường dây nóng 24/7 để kịp thời có biện pháp bảo hộ trong tình huống khủng hoảng. Các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã góp phần giải quyết nhiều vụ, việc được thân nhân, gia đình công dân Việt Nam gặp khó khăn, hoạn nạn ở nước ngoài ghi nhận và đánh giá cao.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì cơ chế phối hợp với các quốc gia sở tại vẫn đang là một khâu yếu trong công tác bảo hộ người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, nhất là đối với những địa bàn chưa có cơ quan đại diện của Việt Nam. Hiện nay, nước ta vẫn chưa có cơ chế phối hợp chặt chẽ, quy định trách nhiệm giữa cơ quan chức năng trong nước với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Trong trường hợp phải giải quyết tình huống khủng hoảng, nhanh và gấp thì chưa tạo được tính nhất quán, hiệu quả. Điều đó phần nào làm giảm hiệu quả của công tác BHCD nói chung và bảo hộ lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nói riêng. Trong nhiều trường hợp, các cơ quan có thẩm quyền của các nước chưa ký kết hiệp định lãnh sự với nước ta không thông báo về việc bắt giữ, xét xử công dân Việt Nam cho các cơ quan đại diện Việt Nam. Điều này gây bất lợi cho công tác BHCD. Một điểm bất lợi khác là, tại các nước chưa ký hiệp định tương trợ tư pháp với nước ta, công dân Việt Nam sẽ phải làm thủ tục hợp pháp hóa nếu muốn sử dụng các giấy tờ do các cơ quan của Việt Nam cấp, phải nộp tiền tạm ứng án phí khi bị khởi kiện tại tòa án, bản án, quyết định của tòa án nước ngoài không được công nhận, thi hành tại Việt Nam.

Để tăng cường, hoàn thiện thiết chế, cơ chế bảo hộ công dân Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các điều ước quốc tế về hợp tác lao động

Để tăng cường, hoàn thiện thiết chế, cơ chế BHCD Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các điều ước quốc tế về hợp tác lao động, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu sau:

Một là, tăng cường vai trò và hiệu quả hoạt động của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài trong việc tiếp cận và hỗ trợ người lao động Việt Nam ở nước ngoài, giải quyết những vướng mắc, tranh chấp với người sử dụng lao động và môi giới nước ngoài về việc làm và điều kiện làm việc, tiền lương, thu nhập, đóng thuế thu nhập, chi phí theo quy định. Công tác BHCD tại các đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài phải bảo đảm về bình đẳng giới, hỗ trợ người lao động nam và nữ trong các trường hợp bị xâm hại, lạm dụng, sao cho bảo vệ được quyền của công dân và người lao động và bảo vệ được danh tính, tôn trọng quyền riêng tư, bí mật cá nhân của họ. Đối với những thị trường tiếp nhận nhiều lao động nữ Việt Nam cần có ít nhất 1 cán bộ nữ thực hiện công tác quản lý lao động.

Hai là, hiện nay, Bộ Ngoại giao đã giao trách nhiệm thực hiện công tác BHCD Việt Nam ở nước ngoài cho Cục Lãnh sự và Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài. Theo đó, Cục Lãnh sự là cơ quan trực tiếp, cụ thể hóa các hoạt động BHCD Việt Nam ở nước ngoài, còn Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài là cơ quan nghiên cứu, xây dựng chủ trương, chính sách, phối hợp trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài. Để chuyên môn hóa và nâng cao hiệu quả công tác BHCD Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao cần phân định rõ hơn nữa chức năng, nhiệm vụ và cơ chế phối hợp giữa hai cơ quan này. Tuy nhiên, Cục Lãnh sự phải là cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm trước lãnh đạo Bộ về công tác BHCD Việt Nam ở nước ngoài, có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các đơn vị, cơ quan chức năng có liên quan để tiến hành hoạt động BHCD khi cần thiết. Cần xây dựng Trung tâm xử lý khủng hoảng trực thuộc Bộ Ngoại giao. Theo đó, Trung tâm này có thể hình thành bộ phận chuyên trách hoặc kiêm nhiệm để xây dựng kế hoạch quốc gia về xử lý khủng hoảng. Trên cơ sở đó, các bộ, ngành liên quan xây dựng kế hoạch ứng phó phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình. Khi có tình huống khủng hoảng xảy ra, Trung tâm sẽ vận hành quy trình xử lý tình huống khủng hoảng; tổ chức trực 24/7 để tiếp nhận, đề xuất, xử lý các thông tin liên quan. Bên cạnh đó, Trung tâm sẽ xây dựng bộ tài liệu tập huấn cho công tác BHCD trong tình huống khủng hoảng; thống nhất quy trình xử lý khủng hoảng ở các cấp độ khác nhau.

Ba là, số lượng người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài ngày càng gia tăng ở nhiều địa bàn và quốc gia khác nhau, do đó, cần tiếp tục tăng cường số lượng các cơ quan đại diện, hạn chế cơ quan đại diện kiêm nhiệm, đặc biệt là các địa bàn có đông người lao động Việt Nam làm việc và cư trú. Bên cạnh đó, cần tăng cường biên chế cho các bộ phận lãnh sự tại các cơ quan đại diện. Trong trường hợp cần thiết, cần nghiên cứu lập các văn phòng lưu động để giải quyết các công việc lãnh sự tại các nước lân cận thuộc khu vực lãnh sự, kịp thời hỗ trợ công dân khi cần thiết. Bên cạnh đó, chú trọng nâng cao trình độ, năng lực, chất lượng cán bộ làm công tác lãnh sự ở nước ngoài.

Bốn là, tiếp tục tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan trong công tác BHCD Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Do tính chất phức tạp và đa dạng của công tác BHCD nên việc phối hợp giữa những cơ quan trực tiếp thực hiện công tác này với các cơ quan hữu quan khác là một việc làm rất cần thiết, quyết định đến hiệu quả của công tác BHCD. Theo đó, trước mắt cần quy định cụ thể hơn về cơ chế phối hợp thường xuyên và định kỳ giữa các cơ quan chức năng, trước hết là giữa Bộ Ngoại giao với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để thống nhất cách thức BHCD, tránh những vướng mắc trong quá trình bảo hộ người lao động Việt Nam ở nước ngoài là người hai quốc tịch; vấn đề cho hồi hương công dân; vấn đề trục xuất công dân Việt Nam ở nước ngoài; vấn đề cho thôi hoặc cho trở lại quốc tịch Việt Nam…

Năm là, xây dựng cơ sở dữ liệu về lao động di cư, triển khai hoạt động đăng ký công dân Việt Nam ở nước ngoài. Thực tế cho thấy, cơ sở dữ liệu về lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài chưa được cập nhật thường xuyên và chưa có cơ sở dữ liệu thống nhất, do có trường hợp cơ quan, doanh nghiệp không gửi báo cáo về Cục Quản lý lao động ngoài nước cũng như Cục Lãnh sự. Do đó, nếu có cơ sở dữ liệu chính xác về lao động di cư hoặc cơ sở dữ liệu về đăng ký công dân ở nước ngoài thì các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thể nắm chắc được số lượng người lao động Việt Nam cư trú trên địa bàn mình quản lý, các thông tin chi tiết về nhân thân của những người này để có thể tiến hành các biện pháp bảo hộ kịp thời khi cần thiết. Để triển khai thực hiện công việc này, trước mắt, cần tiến hành tổng kết, đánh giá công tác đăng ký công dân trong thời gian qua để có thể làm rõ những hạn chế, bất cập trong công tác này và có phương hướng khắc phục; tuyên truyền, phổ biến rộng rãi về tầm quan trọng, tác dụng của hoạt động đăng ký công dân; thủ tục đăng ký công dân cho công dân Việt Nam ở nước ngoài; nâng cao nghiệp vụ, nhận thức của cán bộ làm công tác lãnh sự đối với hoạt động đăng ký công dân ở nước ngoài. Về lâu dài, Bộ Ngoại giao cần tích cực phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật quy định về hoạt động đăng ký công dân Việt Nam ở nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác xác minh quốc tịch của người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài khi xảy ra các tình huống cần bảo hộ.

Sáu là, tăng cường cơ chế phối hợp với quốc gia tiếp nhận về việc BHCD Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các điều ước quốc tế về hợp tác lao động. Trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả công tác BHCD người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các điều ước quốc tế về hợp tác lao động cần chú trọng mối quan hệ phối hợp giữa nước ta với quốc gia tiếp nhận người lao động thông qua các hiệp định song phương, đa phương về xuất khẩu lao động. Theo đó, cần hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc BHCD đi làm việc ở nước ngoài khi gặp khó khăn. Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đấu tranh chống di cư bất hợp pháp; tăng cường sự hợp tác, hỗ trợ của các tổ chức quốc tế cũng như cơ quan chức năng nước sở tại./.

Nguồn: Tạp chí Cộng sản điện tử (tapchicongsan.org.vn)

Categories
Kiến thức pháp luật Nghiên cứu và bình luận

Tranh chấp quyền sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhờ người đứng tên hộ và áp dụng Án lệ số 02/2016/AL

  1. Quyền sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Theo khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.” Hiến pháp năm 2013 tại Điều 22 quy định: “Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp” và Điều 32 tiếp tục khẳng định “Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, …”.

Chế định “quyền sở hữu” và các nguyên tắc xác lập, thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản quy định tại Phần thứ hai, Chương XI của Bộ luật dân sự năm 2015. Theo đó tại Điều 158 Bộ luật dân sự năm 2015 (Sau đây gọi là “BLDS 2015”) quy định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật”. Quyền sở hữu là quyền cơ bản của công dân. Chủ sở hữu tài sản thực hiện quyền năng đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình bằng việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản đó. Và theo định nghĩa về “Tài sản” tại Điều 105 BLDS 2015 thì nhà ở là tài sản – bất động sản.

Quyền sở hữu nhà ở (“QSH nhà ở”) mang bản chất của quyền sở hữu tài sản. Chủ sở hữu nhà ở thực hiện quyền năng của chủ sở hữu thông qua “quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt” đối với nhà ở thuộc sở hữu hợp pháp của mình theo luật định.

Điều 117 BLDS năm 2015 quy định giao dịch dân sự có hiệu lực khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: i) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; ii) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; iii) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. iv) Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.

Pháp luật về nhà ở quy định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán nhà tại các điều 118, 119, 120, 121 và Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014. Với các quy định của pháp luật nêu trên, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được QSH nhà ở tại Việt Nam khi mua nhà ở phải thỏa mãn các quy định về năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự.

  1. Điều kiện được quyền sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Pháp luật nhà ở Việt Nam từng giai đoạn có những quy định khác nhau về quyền sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Cụ thể:

2.1. Giai đoạn từ ngày 30/9/2001 trở về trước

Pháp lệnh nhà ở năm 1991 tại Điều 16 chỉ quy định QSH nhà ở tại Việt Nam của người nước ngoài trong thời gian tiến hành đầu tư hoặc trong thời gian định cư, thường trú dài hạn tại Việt Nam, nếu điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia không có quy định khác. Và Điều 80 Luật Đất đai năm 1993 quy định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chỉ được giao quyền sử dụng đất thông qua hình thức thuê đất; Quyền và nghĩa vụ của người thuê đất do Chính phủ trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định.” Như vậy, pháp luật nhà, đất giai đoạn này không quy định QSH nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

2.2. Giai đoạn từ ngày 01/10/2001 đến ngày 30/6/2006

Kể từ ngày 01/10/2001, theo Luật số 25/2001/QH10 ngày 29/6/2001 về sửa đổi, bổ sung Điều 80 của Luật Đất đai năm 1993, quy định: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài nếu đáp ứng các điều kiện: (1) Về đầu tư lâu dài có nhu cầu về nhà ở trong thời gian đầu tư tại Việt Nam;(2) có công đóng góp với đất nước; (3)những nhà văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước; (4)người có nhu cầu về sống ổn định tại Việt Nam thì được QSH nhà ở gắn liền quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam; và theo Nghị định số 81/2001/NĐ-CP ngày 05/10/ 2001 của Chính phủ quy định: Người Việt Nam ở nước ngoài được mua nhà để ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam phải là người về thường trú hoặc tạm trú tại Việt Nam và có hộ chiếu hợp lệ của Việt Nam hoặc hộ chiếu, giấy tờ hợp lệ của nước ngoài cấp (phải có Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam hoặc Giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam hoặc Giấy xác nhận đăng ký công dân) thuộc một trong 4 đối tượng sau: (1) Người về đầu tư lâu dài tại Việt Nam (theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hoặc Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, được cấp Giấy phép đầu tư hoặc được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền); (2) Người có công đóng góp với đất nước; (3) Nhà văn hoá, nhà khoa học và chuyên gia về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam; (4) có đơn đề nghị về sinh sống ổn định tại Việt Nam và được cấp có thẩm quyền của cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam chấp thuận và phải đáp ứng đủ điều kiện quy định tại Điều 6 của Nghị định thì thuộc đối tượng được QSH nhà ở tại Việt Nam.

Từ ngày 01/7/2004, theo khoản 6 Điều 9 Luật đất đai năm 2003 “Người Việt nam định cư ở nước ngoài về đầu tư, hoạt động văn hóa, hoạt động khoa học thường xuyên hoặc về sống ổn định tại Việt Nam được nhà nước Việt Nam giao đất, cho thuê đất, được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở”. Như vậy, khi không đáp ứng đủ điều kiện quy định của pháp luật nêu trên thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài không được thực hiện các quyền của người sử dụng đất quy định tại Điều 106 của Luật đất đai năm 2003 và khi đó việc họ tham gia giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà là vi phạm pháp luật.

2.3. Giai đoạn từ ngày 01/7/2006 đến nay

Pháp luật về QSH nhà ở tại Việt Nam đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong giai đoạn này liên tục có nhiều thay đổi nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; cụ thể: Từ ngày 01/7/2006 theo Luật nhà ở năm 2005 tại Điều 126 đã quy định thông thoáng hơn và rút ngắn thời gian cư trú “từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ” đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã về Việt Nam cư trú có nhu cầu ở lại Việt Nam. Và đến ngày 01/9/2009 theo Luật số 34/2009/QH sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở thì thời gian cư trú tại Việt Nam đối với chủ thể này đã được rút ngắn xuống còn “03 tháng trở lên” khi đã về Việt Nam cư trú có nhu cầu ở lại Việt Nam.

Từ ngày 01/9/2006, theo Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH ngày 27/7/ 2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để giải quyết các giao dịch mua bán nhà ở thuộc sở hữu tư nhân được xác lập trước ngày 01/7/1991 có người Việt Nam ở nước ngoài tham gia, theo đó trường hợp: (1) có hợp đồng bằng văn bản được các bên cùng ký; (2) Người đang ở tại nhà ở đó chứng minh được là họ đã mua nhà ở đó một cách hợp pháp; (3) Chủ sở hữu nhà ở, người thừa kế nhà ở hoặc người được chủ sở hữu nhà ở uỷ quyền thừa nhận đã bán nhà ở đó thì được coi là hợp đồng mua bán nhà ở và các bên phải hoàn tất các thủ tục chuyển quyền sở hữu nếu không có tranh chấp. Nếu có tranh chấp mà chưa hoàn tất thủ tục chuyển quyền sở hữu; hoặc đã hoàn tất thủ tục nhưng chưa giao nhà hoặc chưa trả đủ tiền thì các bên tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng theo quy định tại Điều 13, Điều 14 của nghị quyết. Hợp đồng mua bán nhà ở có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì bị vô hiệu toàn bộ hoặc một phần; hậu quả pháp lý được giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005; thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/9/2006 không tính vào thời hiệu giải quyết tranh chấp đối với giao dịch nhà ở có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia.

Cùng với quy định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng có quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở thì có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam” tại khoản 1 Điều 186 của Luật Đất đai 2013, từ ngày 01/7/2015 theo Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 chỉ cần người Việt Nam định cư ở nước ngoài “được phép nhập cảnh vào Việt Nam”, có đủ năng lực hành vi dân sự, thuộc đối tượng được quyền mua nhà ở tại Việt Nam thì được QSH nhà ở tại Việt Nam.

Như vậy, nếu người Việt Nam định cư ở nước ngoài không có QSH nhà ở tại Việt Nam khi giao dịch mua nhà ở trước ngày 30/12/2016 sẽ bị coi vi phạm điểm b Điều 122 BLDS năm 2005; và từ ngày 01/01/2017 thì hợp đồng mua bán nhà ở được xác lập bởi những chủ thể này sẽ căn cứ Điều 122, Điều 131 BLDS năm 2015 để tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả giao dịch vô hiệu khi có tranh chấp vì vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 117 của BLDS năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 119 Luật Nhà ở năm 2014 về điều kiện của các bên tham gia giao dịch về nhà ở. Vấn đề này đồng nghĩa với việc khi chủ thể không có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật mà giao dịch mua nhà ở nhưng muốn che đậy bằng cách nhờ người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và được QSH nhà đứng tên giùm trong hợp đồng mua bán nhà và trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hợp đồng đấy sẽ vô hiệu.

  1. Thực tế giải quyết tranh chấp về QSH nhà ở có người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhờ người trong nước đứng tên hộ và áp dụng Án lệ 02/2016/AL

Vụ án “Tranh chấp quyền sở hữu nhà đất” sau đây, có thể thấy quan điểm giải quyết trong việc áp dụng các quy định của Luật nhà ở, Luật đất đai và Án lệ 02 của Tòa án đôi lúc, đôi khi là chưa chính xác.

Tóm tắt vụ án. Ngày 16/02/1998, bà N.T.S (viết tắt là nguyên đơn) và bà N.T.H (viết tắt là bị đơn) ký Giấy mua bán nhà ký tại UBND phường X để mua nhà diện tích 40,8m2 trên 688,32m2 đất tọa lạc tại số A, phường X, quận G, Tp. Hồ Chí Minh của ông L.T.D giá 230 lượng vàng SJC, các bên đã thực hiện và làm Giấy biên nhận vàng, Biên bản giao nhà và khuôn viên ngày 17/02/1998; đồng thời, nguyên đơn còn bồi thường 15 lượng vàng cho ông HVĐ là người đang thuê nhà để giao nhà lại cho ông LTD. Ngày 24/3/1998, bị đơn và ông LTD ký lại Hợp đồng mua bán nhà đất số 2059/HĐ-MBN tại Phòng công chứng, giá 30 triệu đồng (không ghi diện tích). Vì là Việt kiều nên vợ chồng nguyên đơn nhờ bị đơn đứng tên giúp trên giấy tờ mua bán nhà – đất. Ngày 25/5/1999, bị đơn đã ký “Giấy xác nhận quyền sở hữu về bất động sản” thừa nhận tiền mua nhà của vợ chồng nguyên đơn đầu tư trường VA và bị đơn đứng tên giùm trên giấy mua bán. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án công nhận QSH nhà, đất nêu trên là của nguyên đơn. Bị đơn không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu được hưởng ½ giá trị chênh lệch do bị đơn đứng tên giùm cho nguyên đơn theo Án lệ số 02/2016/AL. Người liên quan có yêu cầu độc lập ông PTA yêu cầu hủy Hợp đồng mua bán nhà công chứng ngày 24/3/1998 và Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký tại UBND phường X ngày 16/02/1998 vì cho rằng ông PTA và bị đơn có góp 125 lượng vàng để mua nhà – đất hiện tranh chấp nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh.

Tại Bản án dân sự số 1201/DS-ST ngày 13/9/2017 Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; xác định nhà đất tranh chấp thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn. Nguyên đơn được quyền liên hệ cơ quan chức năng tiến hành làm thủ tục cấp giấy chứng nhận QSH nhà và quyền sử dụng đất theo quy định đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông PTA. Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn về việc được nhận tiền công sức đứng tên giùm.

Phán quyết của Tòa án cấp sơ thẩm được sự ủng hộ tại Bản án số 155/DS-PT ngày 08/5/2019 của Toà án cấp phúc thẩm, cụ thể: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người liên quan có yêu cầu độc lập; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 1201/DS-ST ngày 13/9/2017.

Tuy nhiên, ngày 11/8/2020, TANDTC ban hành Quyết định giám đốc thẩm số 44/2020/DS-GĐT huỷ toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm và Bản án phúc thẩm nêu trên với lý do chưa làm rõ diện tích 660,05m2 đất gồm các loại đất gì và công sức đóng góp của bị đơn.

Tác giả cho rằng TANDTC hủy kết quả giải quyết của Tòa án 2 cấp là chính xác. Việc Tòa án 2 cấp đã căn cứ các tài liệu bản chính sau: Giấy xác nhận ngày 25/5/1999 thể hiện chữ ký của bị đơn và có nội dung bị đơn thừa nhận tiền mua nhà của vợ chồng nguyên đơn đầu tư trường VA, bị đơn đứng tên giùm trên giấy mua bán nhà. Bản kết luận giám định ngày 14/9/2006 của Viện KH-HS tổng cục cảnh sát cũng đã xác định: “chữ ký đúng tên HTH trên Giấy xác nhận quyền sở hữu về bất động sản… ghi ngày 25/5/1999 là chữ ký trực tiếp và được ký trước khi đóng dấu “Trường tiểu học dân lập Việt Anh”; Biên bản thỏa thuận phân chia tài sản trường VA ngày 10/6/2011 khi giải thể thể hiện tài sản của trường không có nhà- đất hiện tranh chấp; Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 16/02/1998 tại UBND phường X, Biên nhận vàng, Biên bản giao nhà và khuôn viên ngày 17/02/1998 giữa nguyên đơn, bị đơn với ông LTD, giấy trả tiền bồi thường sân Patin cho ông Đ và Hợp đồng mua bán nhà lập tại Phòng công chứng ngày 24/3/1998 giữa bị đơn với ông LHD; lời khai tại Tòa án của các đương sự đều thừa nhận nhà- đất không phải tài sản của trường VA. Không có căn cứ chứng minh bị đơn và ông PTA góp 125 lượng vàng để mua chung nhà- đất để xác định số tiền 245 lượng vàng là của nguyên đơn chi trả mua nhà, đất và nhờ bị đơn đứng tên mua hộ là hoàn toàn chính xác.

Vấn đề cần làm rõ là có công nhận nhà, đất thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn hay không? Giải quyết yêu cầu của bị đơn tính công sức đóng góp làm tăng giá trị nhà- đất do đứng tên hộ như thế nào? Căn cứ pháp luật để giải quyết.

Về giải quyết yêu cầu công nhận quyền sở hữu nhà- đất của nguyên đơn

Theo Tòa án xác định: Vợ chồng nguyên đơn là Việt kiều, là người Việt Nam định cư tại nước ngoài được phép xuất – nhập cảnh nhiều lần vào Việt Nam, có hộ chiếu Hoa Kỳ còn giá trị và giấy miễn thị thực đến tháng 3/2020; nguyên đơn là người đang đầu tư tại Việt Nam; do vậy, căn cứ khoản 2 Điều 5, khoản 1 điểm b khoản 2 Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014, Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008 thì nguyên đơn đủ điều kiện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam đối với người Việt Nam định cư tại nước ngoài về sinh sống, đầu tư tại Việt Nam và từ đó tuyên xử: Xác định toàn bộ nhà – đất thuộc quyền sở hữu của nguyên đơn.

Nguyên tắc chung, khi giải quyết tranh chấp quyền sở hữu nhà – đất mà người Việt Nam định cư ở nước ngoài chi tiền mua và nhờ người khác đứng tên hộ (giùm) đòi hỏi thẩm phán nghiên cứu toàn diện và hệ thống quy định pháp luật về  nhà – đất và các văn bản hướng dẫn liên quan; tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ chứng minh có việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã chi tiền và nhờ người trong nước mua nhà – đất và đứng tên hộ trong hợp đồng mua nhà, đất và trên giấy chứng nhận hay không? Tại thời điểm xét xử người Việt Nam ở nước ngoài có được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam không? tùy thuộc vào tài liệu, chứng cứ chứng minh khác liên quan đến vụ án mà kết quả giải quyết có sự khác biệt. Trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được QSH nhà ở tại Việt Nam gửi tiền nhờ người mua và đứng tên hộ nhà, đất tại Việt Nam, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp họ lại thuộc đối tượng được QSH nhà ở thì công nhận cho người Việt Nam định cư ở nước người được QSH nhà ở gắn liền quyền sử dụng đất ở mà họ đã nhờ mua và đứng tên hộ.

Trường hợp xảy ra tranh chấp họ không có QSH nhà ở thì giao dịch giữa người Việt Nam ở nước ngoài với người Việt Nam đứng tên hộ trên giấy tờ nhà- đất là vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật; khi đó Tòa án phải xác định giá trị nhà đất tại thời điểm xét xử: (1) Nếu cao hơn giá lúc mua thì số chênh lệch chia mỗi bên ½; (2) nếu bằng giá khi mua thì buộc người đứng tên hộ thanh toán cho người Việt Nam ở nước ngoài bằng đúng số tiền (vàng) đã bỏ ra mua nhà, đất; (3) Nếu thấp hơn giá mua buộc người đứng tên hộ hoàn trả cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài bằng đúng số tiền vàng theo đúng giá trị định giá. Trường hợp người đứng tên hộ không đồng ý nhận nhà, đất hoặc không đủ điều kiện mua thì phải phát mãi nhà- đất theo quy định và xử lý: (1) Nếu giá nhà đất tại thời điểm giá nhà, đất tại thời điểm phát mãi cao hơn giá mua thì trả cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài bằng đúng số tiền (vàng) đã bỏ ra mua nhà, đất, số tiền phát mãi còn lại chia mỗi bên ½ (Ví dụ: Gửi về 2 tỷ đồng, giá hiện tại 5 tỷ đồng người định cư ở nước ngoài sẽ nhận 3,5 tỷ đồng); (2) Nếu giá trị nhà đất tại thời điểm phát mãi tài sản thấp hơn giá mua thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nhận toàn bộ số tiền phát mãi. Vấn đề đặt ra là người Việt Nam định cư ở nước ngoài được QSH nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất nhưng là loại đất nào hay tất cả các loại đất?

Thực tế xét xử trong vụ án này, theo Giấy mua bán nhà ngày 16/2/1998 ký tại UBND phường X thì các bên mua bán căn nhà diện tích 40,8m2 trên đất 688,32m2; như vậy, trong diện tích 688,32 m2 (đo đạc thực tế là 660,05m2) đất tranh chấp chỉ có phần diện tích nhà ở gắn liền với đất ở diện tích 40,8m2, phần diện tích đất còn lại (660.05m2-40,8m2) chưa được Tòa án xác minh làm rõ là loại đất gì nhưng Tòa án 2 cấp đã tuyên xử công nhận cho nguyên đơn được QSH nhà ở và toàn bộ quyền sử dụng đất diện tích 660,05m2. Phán quyêt này được hiểu Tòa án 2 cấp đã xác định người Việt Nam định cư ở nước ngoài được QSH nhà ở tại Việt Nam thì được quyền sử dụng đất đối với mọi loại đất.

Quan điểm của tác giả: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được QSH nhà ở tại Việt Nam chỉ được công nhận quyền sử dụng đất ở. Vì theo Điều 10 Luật đất đai năm 2013 về phân loại đất gồm: Nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa xác định được mục đích sử dụng; loại “đất ở” được xếp vào nhóm đất “phi nông nghiệp”. Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 quy định điều kiện công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp phải là người đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản, làm muối. Theo Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014 quy định người Việt Nam định cư ở nước ngoài được QSH nhà ở “thông qua hình thức mua, thuê mua nhà ở thương mại….; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại …”; như vậy, chủ thể này chỉ được QSH nhà ở “gắn liền với quyền sử dụng đất ở” chứ không được QSH nhà ở gắn liền với mọi loại đất. Do vậy, để giải quyết vụ án chính xác, đúng pháp luật phải xác định, làm rõ đất tranh chấp thuộc loại đất gì? Giả sử, sau khi xác minh làm rõ phần diện tích còn lại là đất nông nghiệp (không phải là loại đất ở) khi đó kết quả giải quyết vụ án sẽ có sự thay đổi, nguyên đơn chỉ có QSH phần diện tích nhà gắn liền với quyền sử dụng đất ở diện tích 40,8m2 và số tiền tương đương với 245 lượng vàng cùng phần giá trị quyền sử dụng đất tăng thêm sau khi trừ số tiền 245 lượng vàng và khoản tiền tương đương với công sức đóng góp làm tăng giá trị quyền sử dụng đất của bị đơn (nếu có); hoặc nhận lại số tiền tương đương với giá trị nhà – đất hiện tại nếu giá trị nhà đất không tăng giá trị hoặc bị giảm giá trị. Như vậy, việc Tòa án 2 cấp công nhận cho nguyên đơn QSH nhà ở gắn liền với toàn bộ quyền sử dụng đất trong khi chưa việc xác định phần diện tích tranh chấp là loại đất gì là không đúng quy định của tại Luật nhà ở năm 2014 và Luật đất đai năm 2013.

Về giải quyết yêu cầu của bị đơn được hưởng ½ giá trị tài sản do có công sức đứng tên giùm theo Án lệ số 02/2016/AL ngày 06/4/2016

Việc áp dụng án lệ để giải quyết tranh chấp đã được nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng từ lâu điển hình ở Pháp, Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản… BLTTDS năm 2015 của Việt Nam tại Điều 45 về nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng thì Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán, tương tự. Nghị quyết số 03/2015 ngày 29/10/2015 và Nghị quyết 04/2019/HĐTP ngày 18/6/2019 của TANDTC về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ thì án lệ được chính thức áp dụng tại Việt Nam. Liên quan đến xác định công sức đóng góp làm tăng giá trị nhà đất của người đứng tên hộ mua nhà, đất cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài có Án lệ số 02/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua ngày 06/4/2016 trên cơ sở Quyết định số 220/QĐ-CA về việc công bố án lệ của Chánh án TANDTC.

Án lệ số 02/2016/AL được phép áp dụng sau 45 ngày kể từ ngày 06/4/2016 công bố nhưng cho đến nay việc áp dụng án lệ này vào thực tiễn xét xử vẫn còn bất cập, chưa thống nhất. Việc xem xét công sức đóng góp của người đứng tên hộ có làm tăng giá trị nhà – đất hay không đòi hỏi Thẩm phán khi giải quyết vụ án cần phải tiến hành các thủ tục thu thập tài liệu, chứng cứ được quy định tại Điều 97 BLTTDS năm 2015 để chứng minh giá trị tài sản nhà – đất tại thời điểm giao dịch nhà – đất được xác lập và thời điểm xét xử; cụ thể: Chi phí người nhờ đứng tên đã bỏ ra mua nhà – đất là bao nhiêu? Trong thời gian quản lý nhà, đất người đứng tên hộ có đóng góp gì để làm tăng giá trị nhà, đất; chẳng hạn người đứng tên hộ có bỏ tiền ra sửa chữa, tu bổ xây dựng lại nhà, công trình trên đất không? nếu có là bao nhiêu? Đồng thời, tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và thẩm định giá trị nhà – đất tại thời điểm xét xử để xác định giá trị nhà – đất hiện tại so với thời điểm mua có thay đổi không, nếu có thì thay đổi tăng hay giảm giá trị? Việc thu thập các thông tin, tài liệu chứng cứ nêu trên có giá trị quan trọng và bắt buộc trong quá trình giải quyết tính công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất cho người đứng tên hộ.

Nguyên tắc áp dụng án lệ: Từ trước ngày 15/7/2019 theo Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 29/10/2015 và Công văn 146 ngày 11/7/2019 của TANDTC thì áp dụng án lệ bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau phải được giải quyết như nhau. Còn từ ngày 15/7/2019 đến nay, theo Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 áp dụng án lệ phải bảo đảm những vụ việc có tình huống pháp lý tương tự thì phải được giải quyết như nhau.

Trong vụ án này, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã cùng xác định: Quá trình mua bán và quản lý sử dụng nhà- đất tranh chấp thì việc mua bán đều có nguyên đơn tham gia và đứng tên trên giấy mua bán, giao nhận vàng và là người nhận bàn giao nhà, đất. Nguyên đơn là người xây dựng tường rào xung quanh khuôn viên nhà – đất. Bị đơn chỉ đứng tên giùm cùng nguyên đơn trên giấy tay mua bán nhà ngày 16/02/1998 và sau đó bị đơn đứng tên trên Hợp đồng mua bán số 2059/HĐ/MBN ngày 24/3/1998 có công chứng và Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/2/1998 có xác nhận tại UBND phường X để hợp thức hóa việc mua bán trước đó. Sau khi mua nhà – đất vợ chồng bị đơn không quản lý mà trường VA quản lý và bị đơn đã giao toàn bộ giấy tờ mua bán nhà – đấy bản chính cho nguyên đơn. Ông PTA không đứng tên trên giấy tờ mua bán và không tham gia quản lý chỉ ký vào hợp đồng mua bán là người làm chứng. Do vậy bị đơn và ông PTA không có công sức gì trong việc mua bán, quản lý tôn tạo làm tăng giá trị nhà đất. Tình tiết này trong vụ án khác với Án lệ số 02/2016/AL nên không áp dụng án lệ này để giải quyết trong vụ án này. Do đó, nguyên đơn không phải bồi thường công sức quản lý nhà đất và đứng tên giúp trong việc mua bán nhà đất và tuyên xử không chấp nhận yêu cầu của bị đơn.

Theo tác giả, việc Tòa án 2 cấp cho rằng tình tiết trong vụ án này khác (không giống) với án lệ 02 nên không áp dụng án lệ này để giải quyết trong vụ án là chưa thuyết phục, và không chính xác; bởi lẽ: Giấy mua bán nhà ngày 16/02/1998 được ký giữa nguyên đơn, bị đơn và ông LHD đã vi phạm điều kiện hình thức của hợp đồng mua bán nhà và vi phạm điều cấm của pháp luật. Không thể áp dụng quy định tại Nghị quyết số 1037/2006/NQ- UBTVQU 11 ngày 27/7/2006 để công nhận QSH nhà ở cho nguyên đơn theo Giấy mua nhà ngày 16/02/1998 vì giao dịch nhà ở này được xác lập sau ngày 01/7/1991. Mà theo Pháp lệnh Nhà ở năm 1991 không có quy định người Việt Nam định cư ở nước ngoài được QSH nhà ở tại Việt Nam. Và theo Điều 80 Luật Đất đai năm 1993 quy định thì Chính phủ quyết định việc cho “người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuê đất”. Như vậy, tại thời điểm năm 1998, pháp luật nhà, đất không quy định người Việt Nam định cư ở nước ngoài được QSH nhà ở, đất ở tại Việt Nam. Nên giao dịch mua nhà được xác lập theo Giấy mua nhà ngày 16/02/1998 giữa người bán và nguyên đơn cùng bị đơn là không được pháp luật bảo vệ. Việc bị đơn đã đứng ra ký Giấy mua bán nhà ngày 16/2/1998 có xác nhận của UBND phường X và Hợp đồng mua bán nhà ngày 24/3/1998 tại phòng Công chứng làm cho giao dịch mua bán nhà ở gắn liền quyền sử dụng đất giữa các bên trở nên hợp pháp và đây là căn cứ để cấp Giấy chứng nhận QSH nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo quy định của Luật đất đai năm 2013 bảo vệ quyền lợi bên mua nhà nếu ông LHĐ có phát sinh tranh chấp. Việc bị đơn giao lại bản chính các giấy tờ nhà- đất cho nguyên đơn, việc nguyên đơn và bị đơn cùng ký Biên bản giao nhận tiền và nhận nhà ngày 17/02/1998 không làm thay đổi được bản chất của giao dịch mua bán nhà vô hiệu. Do vậy, Tòa án 2 cấp không tính công sức của bị đơn đã bỏ ra thực hiện giao dịch và đứng tên hộ trong hợp đồng mua nhà đất cho nguyên đơn là không đúng tinh thần Án lệ số 02/2016 ngày 06/4/2016, không đảm bảo quyền lợi chính đáng của bị đơn được pháp luật bảo vệ.

Kết luận

Nguyên tắc chung khi giải quyết án dân sự phải nghiên cứu toàn diện, khách quan, có hệ thống và đảm bảo đúng pháp luật là trách nhiệm của mỗi Thẩm phán được phân công giải quyết. Để áp dụng pháp luật đúng và vận dụng án lệ chính xác trong quá trình giải quyết tranh chấp thấu tình, đạt lý, bảo vệ quyền lợi của các chủ thể đòi hỏi thẩm phán cần căn cứ tình tiết, yêu cầu cụ thể của mỗi bên trong vụ án để lựa chọn nội dung cụ thể nào của án lệ hay toàn bộ nội dung án lệ để áp dụng. TANDTC cần tiếp tục phát triển thêm án lệ đối với loại án tranh chấp nêu trên nhưng mang tính khái quát cao và điển hình hơn Án lệ số 02/2016/AL ngày 06/4/2021, theo đó chứa dựng gồm cả giải quyết công nhận quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi nhờ người đứng tên mua nhà, đất và đường lối giải quyết công sức đóng góp của người đứng tên hộ. Có như vậy, việc giải quyết loại án này mới đảm bảo tính thống nhất và chính xác cao./.

Theo: TS. Nguyễn Thị Minh Phượng, Tạp chí Toà án nhân dân điện tử.

 

Categories
Khác Tin tức trong nước

Chính sách mới nổi bật có hiệu lực từ tháng 08-2021

Nâng bậc lương công chức, mẫu hộ chiếu mới, quản lý thuế, lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước… là những lĩnh vực được quy định trong nhiều văn bản chính thức có hiệu lực từ tháng 8-2021.

Không yêu cầu chứng chỉ về trình độ ngoại ngữ và tin học

Theo Thông tư số 02/2021/TT-BNV của Bộ Nội vụ, có hiệu lực từ ngày 1-8-2021, ở tất cả các ngạch công chức chuyên ngành hành chính và văn thư đã không còn yêu cầu chứng chỉ về trình độ ngoại ngữ và tin học trong tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng. Thay vào đó, ứng viên được yêu cầu có kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản, sử dụng được ngoại ngữ ở trình độ phù hợp, tùy theo yêu cầu trong tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của từng ngạch.

Bổ sung thời gian xét nâng lương công chức, viên chức

Theo Thông tư 03/2021/TT-BNV của Bộ Nội vụ về điều chỉnh vấn đề nâng bậc lương của cán bộ, công chức, viên chức (có hiệu lực từ ngày 15-8-2021), thời gian cán bộ, công chức, viên chức tham gia phục vụ tại ngũ theo Luật Nghĩa vụ quân sự được tính vào thời gian để xét nâng bậc lương thường xuyên.

Ngược lại, bổ sung thêm một số trường hợp không tính để xét nâng bậc lương thường xuyên, gồm thời gian đào ngũ; thời gian thử thách khi hưởng án treo; thời gian nghỉ công tác chờ tuổi nghỉ hưu.

Tiêu chuẩn nâng bậc lương thường xuyên đối với cán bộ, công chức cũng được thay đổi từ ngày 15-8-2021, theo đó, cán bộ, công chức được đánh giá từ mức hoàn thành nhiệm vụ trở lên mới được nâng bậc lương thường xuyên. Trước đây là mức đánh giá “hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế năng lực” cũng thuộc diện được nâng bậc lương.

Các trường hợp bị dừng nhận trợ cấp xã hội

Theo Thông tư 02/2021/TT-BLĐTBXH của Bộ LĐTB-XH, tới đây sẽ có thêm 3 trường hợp bị tạm dừng nhận trợ cấp xã hội, gồm:

  • Đối tượng không nhận chế độ, chính sách liên tục từ 03 tháng trở lên;
  • Đối tượng không chấp hành yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xác định lại mức độ khuyết tật, xác định lại điều kiện hưởng trợ giúp xã hội hoặc thông tin khác phục vụ công tác quản lý đối tượng.
  • Đối tượng bị tạm giam từ 01 tháng trở lên đối với trường hợp đối tượng đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng.

Thông tư 02/2021/TT-BLĐTBXH có hiệu lực từ ngày 8-8-2021, nhưng các chế độ, chính sách quy định tại Thông tư này được áp dụng từ ngày 1-7-2021.

Gắn chip vào hộ chiếu

Theo Thông tư 73/2021/TT-BCA, có hiệu lực từ ngày 14-8-2021, từ thời điểm này trở đi, hộ chiếu sẽ là loại giấy tờ tùy thân tiếp theo căn cước công dân được gắn chip. Mẫu chip được công bố tại thông tư nêu trên, lưu thông tin được mã hóa của người mang hộ chiếu và chữ ký số của người cấp. Trang bìa của hộ chiếu vẫn in quốc hiệu, quốc huy, tên hộ chiếu. Hình ảnh tại các trang trong hộ chiếu là phong cảnh, di sản văn hóa Việt Nam, kết hợp cùng họa tiết trống đồng. Ngôn ngữ sử dụng trong hộ chiếu gồm 2 ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh.

Việc cấp hộ chiếu có gắn chip đã được nêu tại Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 01/07/2020), nhưng nay Bộ Công an mới ban hành mẫu hộ chiếu này.

Doanh thu dưới 100 triệu đồng/ năm không phải nộp thuế GTGT và TNCN

Theo Thông tư 40/2021/TT-BTC hướng dẫn thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, có hiệu lực từ ngày 1-8-2021, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh trong năm dương lịch từ 100 triệu đồng trở xuống thì thuộc trường hợp không phải nộp thuế GTGT và không phải nộp thuế TNCN theo quy định pháp luật về thuế GTGT và thuế TNCN. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có trách nhiệm khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế theo quy định. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh theo hình thức nhóm cá nhân, hộ gia đình thì mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế GTGT, không phải nộp thuế TNCN được xác định cho 1 người đại diện duy nhất của nhóm cá nhân, hộ gia đình trong năm tính thuế.

Lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước

Theo Nghị định 60/2021/NĐ-CP về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập, có hiệu lực 15-8-2021, đến hết năm 2021 sẽ cơ bản hoàn thành lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công (tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp, chi phí quản lý và khấu hao tài sản cố định, chi phí khác theo quy định của pháp luật về giá).

Riêng đối với giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập; giá dịch vụ giáo dục đào tạo và giáo dục nghề nghiệp tại cơ sở giáo dục đào tạo, giáo dục nghề nghiệp công lập, nếu không thực hiện được lộ trình quy định trên, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định, sau khi có ý kiến thẩm định của Bộ Tài chính. Dịch vụ sự nghiệp công đang được Nhà nước đặt hàng theo giá tính đủ chi phí thì tiếp tục thực hiện theo giá tính đủ chi phí.

Nguồn: https://sggp.org.vn

 

 

Categories
Nghiên cứu và bình luận

Giải đáp một số vướng mắc thường gặp trong Tố tụng hình sự

Tại Công văn số 89/TANDTC-PC , ngày 30 tháng 6 năm 2020,Tòa án nhân dân tối cao đã thông báo kết quả giải đáp một số vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, hành chính và dân sự. Trong phạm vi bài này, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử giới thiệu những vướng mắc trong tố tụng hình sự

Trường hợp bị cáo bị truy tố về một hoặc một số tội thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện nhưng khi thụ lý vụ án xét thấy bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì thẩm quyền giải quyết sơ thẩm vụ án hình sự được thực hiện như thế nào?

Về vấn đề này, trước đây đã được hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2010/NQ-HĐTP ngày 22-10-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, tuy nhiên hiện nay Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không có thay đổi, bổ sung so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Do đó, trường hợp bị cáo bị truy tố về một hoặc một số tội thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện mà khi thụ lý vụ án xét thấy bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình tại một bản án khác và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật thì Toà án nhân dân cấp huyện phải báo cáo với Toà án nhân dân cấp tỉnh để Toà án nhân dân cấp tỉnh thống nhất với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh rút hồ sơ vụ án lên để truy tố, xét xử ở cấp tỉnh.

Căn cứ khoản 3 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự về giới hạn xét xử: Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về 01 tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết nếu Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử tội danh nặng hơn. Tuy nhiên, đối với các tội phạm khác nhau về khách thể thì có được áp dụng quy định trên không?

Ví dụ: Trong vụ án hình sự có 02 bị cáo, bị cáo A bị Viện kiểm sát truy tố về tội: “Che dấu tội phạm”, bị cáo B bị truy tố về tội: “Giết người”. Tòa án nhận thấy bị cáo A có dấu hiệu phạm tội: “Giết người” với vai trò đồng phạm. Tòa án tiến hành trả hồ sơ để viện kiểm sát truy tố lại nhưng Viện kiểm sát không thực hiện. Vậy, Tòa án xét xử bị cáo A về tội gì?

Khoản 3 Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn, quy định này được hiểu là bất kể tội danh gì mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm nếu hành vi phạm tội của bị cáo có đủ căn cứ kết tội họ. Do đó, trường hợp này Tòa án có thể xét xử tội danh nặng hơn đối với các tội phạm khác nhau về khách thể như nêu trên. Tuy nhiên, các Tòa án cần lưu ý bảo đảm quyền bào chữa, thành phần Hội đồng xét xử và các quy định khác theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong vụ án hình sự, có bị can, bị cáo đang thi hành án hình phạt tù ở một vụ án trước hoặc có bị can, bị cáo đang thi hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, khi trích xuất bị can, bị cáo để phục vụ việc xét xử Tòa án có phải ra Quyết định tạm giam để làm căn cứ trích xuất được bị cáo đến phiên tòa không? (Thông tư liên tịch số 04/2013/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 30-5-2013 và Thông tư liên tịch số 01/2018/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 23-01-2018 không nêu rõ trường hợp này).

– Đối với bị can, bị cáo đang thi hành án hình phạt tù ở một vụ án trước thì không ra quyết định tạm giam mà chỉ ra quyết định trích xuất để phục vụ công tác xét xử vụ án. Vì không có căn cứ tạm giam theo quy định tại Điều 119 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hiện nay, liên ngành trung ương đang soạn thảo Thông tư liên tịch thay thế Thông tư liên tịch số 04 nêu trên, trong đó đã hướng dẫn trường hợp này khi phạm nhân được trích xuất phục vụ điều tra, truy tố, xét xử thì chế độ quản lý giam giữ, chế độ ăn, ở, sinh hoạt đối với phạm nhân được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam.

Đối với bị can, bị cáo đang thi hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì Tòa án có thể yêu cầu Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người đó theo quy định tại Điều 117 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Sau đó, tùy trường hợp căn cứ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự để xem xét áp dụng biện pháp tạm giam hay biện pháp ngăn chặn khác đối với bị can, bị cáo đó.

Viện kiểm sát rút một phần truy tố tại phiên tòa thì bản án có phải xem xét, đánh giá tính có căn cứ của việc rút truy tố của Viện kiểm sát hay không?

Về vấn đề này, trước đây Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 8-12-1988 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao “Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự” và Công văn số 328/NCPL ngày 22-6-1993 của Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn. Tuy nhiên, hiện nay Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không có thay đổi, bổ sung so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Do đó, nếu tại phiên toà, sau khi xét hỏi, Kiểm sát viên chỉ rút quyết định truy tố đối với một tội hoặc một số tội và giữ nguyên quyết định truy tố đối với các tội khác hay Kiểm sát viên chỉ rút quyết định truy tố đối với một hoặc một số các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo hoặc các bị cáo còn lại thì đây là các trường hợp Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố. Vì vậy trong trường hợp này, Hội đồng xét xử vẫn xét xử toàn bộ vụ án và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận việc rút truy tố đó. Căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận được ghi trong bản án.

Sau khi Tòa án tuyên án nhưng bản án chưa có hiệu lực pháp luật, chưa có quyết định thi hành án thì người được hưởng án treo không có mặt tại nơi cư trú hoặc vi phạm nội quy, quy chế tại nơi cư trú có được xác định là vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự hay không?

Trường hợp này xác định là vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự. Vì thời gian thử thách của người được hưởng án treo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm và căn cứ vào khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự để xử lý.

Người được Tòa án quyết định hoãn chấp hành án phạt tù (đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc mang thai), chưa hết thời gian hoãn nhưng người bị kết án tự nguyện xin đi chấp hành án thì cơ quan có thẩm quyền có chấp nhận không?

Trường hợp này, người đang được hoãn chấp hành án phạt tù phải có đơn gửi Chánh án Tòa án đã ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù để Chánh án ra quyết định thi hành án trong đó có ghi rõ nội dung quyết định này thay thế quyết định hoãn chấp hành án phạt tù.

(Theo Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử)

Categories
Hệ thống VBPL Kiến thức pháp luật

19 mẫu sổ quốc tịch và mẫu giấy tờ về quốc tịch áp dụng từ 24/5/2020

Ngày 08/4/2020, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư 02/2020/TT-BTP hướng dẫn sử dụng, quản lý mẫu sổ quốc tịch và mẫu giấy tờ về quốc tịch. Theo đó, kể từ ngày 24/5/2020, giấy tờ về quốc tịch sẽ được áp dụng theo mẫu quy định tại Thông tư này.

Legallink xin tổng hợp các mẫu sổ quốc tịch và mẫu giấy tờ về quốc tịch áp dụng từ 24/5/2020 tại bảng dưới đây:

1. 04 mẫu sổ quốc tịch

STT Loại mẫu Ký hiệu
1 Sổ thụ lý hồ sơ các việc về quốc tịch TP/QT-2020-STLHSQT
2 Sổ đăng ký xác định có quốc tịch Việt Nam TP/QT-2020-SĐKXĐCQTVN
3 Sổ cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam TP/QT-2020-SCGXNCQTVN
4 Sổ cấp Giấy xác nhận là người gốc Việt Nam TP/QT-2020-SCGXNGVN

2. 15 loại mẫu giấy tờ về quốc tịch

STT Loại mẫu Ký hiệu
1 Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam TP/QT-2020-ĐXNQT.1
2 Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam

(Dùng cho người giám hộ/người đại diện theo pháp luật làm Đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam cho người được giám hộ/được đại diện)

TP/QT-2020-ĐXNQT.2
3 Đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam TP/QT-2020-ĐXTLQT.1
4 Đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam

(Dùng cho người giám hộ/người đại diện theo pháp luật làm Đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam cho người được giám hộ/được đại diện)

TP/QT-2020-ĐXTLQT.2
5 Đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam TP/QT-2020-ĐXTQT.1
6 Đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam

(Dùng cho người giám hộ/người đại diện theo pháp luật làm Đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam cho người được giám hộ/được đại diện)

TP/QT-2020-ĐXTQT.2
7 Bản khai lý lịch TP/QT-2020-BKLL
8 Tờ khai đề nghị đăng ký xác định có quốc tịch Việt Nam TP/QT-2020-TKXĐCQTVN
9 Tờ khai đề nghị cấp Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam TP/QT-2020-TKXNCQTVN
10 Tờ khai đề nghị xác nhận là người gốc Việt Nam TP/QT-2020-TKXNNGVN
11 Trích lục đăng ký xác định có quốc tịch Việt Nam TP/QT-2020-TLXĐCQTVN
12 Giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam TP/QT-2020-XNCQTVN
13 Giấy xác nhận là người gốc Việt Nam TP/QT-2020-XNNGVN
14 Phiếu tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả hồ sơ TP/QT-2020-PTNHS
15 Danh sách người được đề nghị giải quyết các việc về quốc tịch TP/QT-2020-DS

Lưu ý:

– Mẫu sổ quốc tịch, mẫu giấy tờ về quốc tịch ban hành theo Danh mục trên được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp (tại địa chỉ: www.moj.gov.vn), cơ quan có thẩm quyền thụ lý hồ sơ giải quyết các việc về quốc tịch được truy cập, tự in để sử dụng.

– Người có yêu cầu giải quyết các việc về quốc tịch truy cập trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp để in và sử dụng các mẫu Đơn, Bản khai lý lịch, Tờ khai. Trường hợp người có yêu cầu không thể tự in thì cơ quan có thẩm quyền thụ lý hồ sơ có trách nhiệm in và phát miễn phí cho người có yêu cầu.

(Nguồn: thukyluat.vn)

 

Categories
Khác Tin tức trong nước

Kế hoạch cải cách thuế giai đoạn 2019 -2020

Phấn đấu tối thiểu 80% doanh nghiệp sử dụng các dịch vụ hỗ trợ điện tử. Cơ quan thuế sẽ cung cấp các dịch vụ tra cứu thông tin 24/24 giờ dưới nhiều hình thức (điện thoại, tin nhắn SMS) để người nộp thuế có thể dễ dàng tra cứu các thông tin về nghĩa vụ của mình.

Ảnh minh họa

Tổng cục Thuế đã có Quyết định ban hành kế hoạch cải cách thuế giai đoạn 2019-2020. Theo đó, để phát triển dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế, cơ quan thuế sẽ xây dựng và đưa vào áp dụng quy chế phối hợp với các cơ quan đơn vị ngoài ngành thuế; thường xuyên tổ chức khảo sát mức độ hài lòng của người nộp thuế, từ đó ban hành và công khai công văn chấn chỉnh hoạt động của cơ quan thuế các cấp, trên cơ sở kết quả đánh giá.

Đối với công tác thanh kiểm tra, trong giai đoạn này sẽ ban hành và áp dụng bộ tiêu chuẩn cán bộ, công chức thực hiện công tác thanh kiểm tra; tổ chức thi sát hạch kiến thức và kỹ năng thanh kiểm tra cho 100% công chức. Áp dụng tiêu chí đánh giá hiệu quả công việc gắn với luân phiên, luân chuyển cán bộ giữa các phòng.

Bên cạnh đó, để đổi mới toàn diện hoạt động thanh kiểm tra theo hướng thống nhất, hiện đại, chính quy, ngành thuế sẽ rà soát và hệ thống lại các quy định về thanh kiểm tra, tổng hợp các vướng mắc và kiến nghị sửa đổi bổ sung; đồng thời xây dựng và thực hiện các chương trình thanh kiểm tra phù hợp với từng nhóm đối tượng theo chuyên ngành.

Về công tác đăng ký kê khai nộp thuế, kế hoạch nêu rõ thực hiện rà soát, sửa đổi bổ sung chính sách về đăng ký thuế phù hợp định hướng cải cách hành chính và thông lệ quốc tế; hoàn thiện cơ sở dữ liệu định danh người nộp thuế đầy đủ, chính xác và cập nhật kịp thời. Ngành thuế sẽ ban hành bộ tiêu chí và bộ chỉ số đánh giá rủi ro để phục vụ công tác quản lý; phối hợp với cơ quan đăng ký kinh doanh xây dựng cơ chế phối hợp cấp mã số duy nhất về đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế; triển khai mở rộng khai thuế điện tử cho cá nhân có hoạt động cho thuê nhà và lệ phí trước bạ khi đăng ký ôtô, xe máy.

Đối với công tác quản lý nợ thuế, trong giai đoạn 2019-2020 sẽ xây dựng bộ tiêu chí rủi ro trong công tác quản lý nợ thuế và đánh giá kế quả thực hiện. Ngành thuế sẽ nghiên cứu một số phương pháp dự báo số tiền thuế nợ; phân tích, thiết kế ứng dụng công nghệ thông tin về phương pháp dự báo số tiền thuế nợ và áp dụng thí điểm ở một số cơ quan thuế. Hàng năm sẽ thực hiện đào tạo kỹ năng quản lý thu tiền thuế nợ cho 15% công chức làm việc ở bộ phận quản lý nợ các cấp trong ngành thuế.

(Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ)