Categories
Khác Tin tức trong nước

Tăng thời hạn miễn visa cho 5 nước lên 3 năm

“Ngày 3-5, Chính phủ bàn đến việc tiếp tục gia hạn thị thực cho công dân 5 nước Tây Âu và Thủ tướng kết luận đồng ý gia hạn thêm ba năm nữa, bắt đầu từ 1/7/2018”. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho biết như trên tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 4/2018 vừa diễn ra hôm qua.


Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cho biết thêm: Chúng ta có mốc miễn thị thực cho công dân 5 nước Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha và Italy tới 30/6/2018 là hết hiệu lực. Thời gian gia hạn, miễn cấp thị thực là 1 năm. Sau khi nghe ý kiến của Bộ VHTT&DL và các bộ liên quan, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý tiếp tục miễn visa cho 5 nước châu Âu bắt đầu từ 1/7/2018 với thời hạn là 3 năm.

“Quốc hội đã cho phép Chính phủ thí điểm cấp visa điện tử. Có thể nói đây là cải cách rất mạnh mẽ của chúng ta. Chúng ta cũng không để cho khách quốc tế phải đến gặp trực tiếp các cơ quan ở nước ngoài, ở cửa khẩu. Du khách ở bất cứ nơi nào cũng đăng ký cấp visa, từ việc thuận tiện này chúng ta đã có lượng khách rất tốt”, ông Dũng nói thêm.

Trước đó nhiều địa phương, hiệp hội, bộ, ngành… gần đây liên tiếp kiến nghị Chính phủ tiếp tục miễn thị thực cho công dân năm nước châu Âu là Anh, Đức, Pháp, Ý và Tây Ban Nha.

Đặc biệt, Hội đồng Tư vấn du lịch kiến nghị nâng thời hạn tạm trú tại Việt Nam cho công dân 5 nước Tây Âu được miễn thị thực từ 15 ngày lên 30 ngày lưu trú tại Việt Nam.

Ngoài ra, đề nghị Chính phủ áp dụng chương trình miễn thị thực năm năm hoặc 10 năm, thay vì gia hạn từng năm để tránh sự xáo trộn cho du khách và công ty du lịch.

Đặc biệt, bãi bỏ quy định “mỗi lần nhập cảnh phải cách ngày xuất cảnh khỏi VN lần trước ít nhất là 30 ngày” vì không hợp lý.

Đồng thời kiến nghị miễn thị thực thêm cho công dân 6 nước (Australia, New Zealand, Canada, Bỉ, Hà Lan và Thuỵ Sĩ)

Năm 2015, có 720.000 lượt khách Tây Âu đến Việt Nam, năm 2016 chúng ta tăng lên được 855.000 lượt khách và năm 2017 lượng khách Tây Âu đến Việt Nam là 1,5 triệu lượt.

Theo Thư viện pháp luật.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Thông cáo báo chí phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4/2018

Ngày 3/5/2018, tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4/2018.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4/2018

Tại phiên họp, Chính phủ đã nghe và thảo luận các nội dung: Tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ và tình hình kinh tế-xã hội tháng 4 và 4 tháng năm 2018; công tác chuẩn bị phục vụ kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIV; tình hình thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2018; tình hình ban hành các văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh 4 tháng đầu năm 2018; báo cáo sơ bộ kết quả rà soát các luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các văn bản quy phạm pháp luật khác về tổ chức bộ máy cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới để triển khai Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6; phương án phân bổ kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 còn lại; việc quản lý và sử dụng viên chức, hợp đồng lao động trong đơn vị sự nghiệp công lập ngành y tế, giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ và một số nội dung quan trọng khác.

Nhìn lại 1/3 chặng đường đầu tiên của năm 2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao tinh thần vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của các bộ, ngành, địa phương với việc ban hành các kế hoạch hành động cụ thể, thường xuyên tổ chức kiểm tra, đôn đốc công việc được giao. Kinh tế-xã hội tháng 4 tiếp tục có chuyển biến tích cực và toàn diện, tạo không khí phấn khởi trong sản xuất kinh doanh, góp phần củng cố niềm tin thị trường, niềm tin của nhà đầu tư và nhân dân.

Cùng với những kết quả đạt được, Thủ tướng cũng nhấn mạnh đến những tồn tại, khó khăn, thách thức để ứng phó và thực hiện nhiệm vụ được tốt hơn trong bối cảnh kinh tế quốc tế còn có những diễn biến phức tạp, khó lường; khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới nóng, ở giữa lạnh”.

Thảo luận tại phiên họp, các thành viên Chính phủ thống nhất nhận định, tình hình kinh tế-xã hội tháng 4 và 4 tháng năm 2018 tiếp tục chuyển biến tích cực. Kinh tế vĩ mô được duy trì ổn định, lạm phát trong tầm kiểm soát, tốc độ tăng giá tiêu dùng thấp hơn cùng kỳ năm 2017 và trong phạm vi mục tiêu của Quốc hội; thị trường tiền tệ, ngoại hối, mặt bằng lãi suất ổn định, thanh khoản tốt.

Thu, chi ngân sách Nhà nước cơ bản được bảo đảm, đến hết tháng 4 đạt khoảng 33,8% dự toán thu và gần 27% dự toán chi. Giải ngân vốn FDI đạt khá, cao hơn cùng kỳ. Tình hình sản xuất kinh doanh diễn biến tích cực và tương đối toàn diện trong cả 3 khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; dịch vụ. Trong đó, công nghiệp và dịch vụ là điểm sáng, nhất là ngành công nghiệp chế biến chế tạo và du lịch. Xuất, nhập khẩu hàng hóa tăng cao, tính chung 4 tháng đầu năm 2018, tổng kim ngạch xuất khẩu ước tăng 19%; tổng kim ngạch nhập khẩu ước tăng trên 10%; cán cân xuất, nhập khẩu tiếp tục xuất siêu, thặng dư khoảng 3,39 tỷ USD.

Công tác an sinh xã hội, chăm lo đời sống nhân dân được bảo đảm; các lĩnh vực văn hóa, xã hội, thông tin và truyền thông phát triển toàn diện; công tác bảo vệ môi trường, chủ động phòng chống thiên tai, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu được tăng cường. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.


Tuy nhiên, các thành viên Chính phủ cũng cho rằng, khó khăn, thách thức đối với nền kinh tế còn nhiều, đòi hỏi các cấp, các ngành cần tiếp tục nỗ lực hơn nữa trong những tháng còn lại của năm để phấn đấu hoàn thành mục tiêu kế hoạch đề ra. Trước mắt, cần lưu ý đến những diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế khu vực và quốc tế; áp lực lạm phát trong những tháng cuối năm; tình hình thời tiết có diễn biến bất lợi khi bắt đầu xuất hiện tình trạng nắng nóng, khô hạn ở một số nơi; tiềm ẩn nguy cơ bùng phát các loại sâu, bệnh trong trồng trọt và chăn nuôi;…

Sau khi phân tích những thời cơ, thuận lợi, khó khăn, thách thức của tình hình trong nước, khu vực và quốc tế, kết luận phiên họp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục chủ động theo dõi sát diễn biến tình hình để có những phản ứng chính sách kịp thời; tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra; tăng cường đôn đốc, kiểm tra, khắc phục tình trạng trì trệ trong thực hiện nhiệm vụ; đổi mới, sáng tạo, quyết liệt hành động, tạo chuyển biến mạnh mẽ, đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực.

“Tôi đề nghị từng thành viên Chính phủ, các bộ trưởng, tư lệnh các ngành phải luôn nhận thức rõ trọng trách trước Đảng, Chính phủ, trước nhân dân; thực sự đổi mới, cầu thị, sát việc, sát thực tiễn, sát dân; theo dõi, ứng phó kịp thời trước những vấn đề mới, những biến động rất nhanh của bối cảnh tình hình trong nước, quốc tế để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên”, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu.

Trên tinh thần này, Thủ tướng nhấn mạnh cần tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; kiểm soát tốt lạm phát; điều hành lãi suất phù hợp với cân đối vĩ mô, lạm phát và thị trường tiền tệ. Trong điều kiện lạm phát được kiểm soát thấp, kinh tế vĩ mô ổn định, các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay trên cơ sở bảo đảm hoạt động an toàn, lành mạnh tài chính. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách và triển khai có hiệu quả các chương trình tín dụng đối với ngành, lĩnh vực, tín dụng chính sách theo chủ trương của Chính phủ; điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường, các cân đối vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu chính sách tiền tệ. Triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp quản lý ngoại hối, thị trường ngoại tệ. Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt; hoàn thiện khuôn khổ pháp lý các hệ thống thanh toán, tăng cường việc ứng dụng các phương tiện thanh toán mới, hiện đại trên nền tảng công nghệ tiên tiến; bảo đảm an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán điện tử, thanh toán thẻ.

Rà soát các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật nào không còn phù hợp, làm cản trở phát triển kinh tế-xã hội thì phải sửa đổi ngay, phải cắt bỏ, bãi bỏ ngay. Đây là nhiệm vụ trọng tâm của các cấp, các ngành và phải được thực hiện thường xuyên, liên tục.

Chủ động trong công tác phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng. Xử lý nghiêm và công bố công khai các hành vi gian lận thương mại, vi phạm các quy định về chất lượng, cạnh tranh không lành mạnh.

Thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công; kịp thời phát hiện xử lý các khó khăn, vướng mắc đối với từng dự án cụ thể. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong quá trình triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý đấu thầu, đẩy mạnh triển khai thực hiện đấu thầu qua mạng.

Điều hành hiệu quả chính sách tài khóa, phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, làm tốt công tác quản lý thu-chi ngân sách Nhà nước, chống chuyển giá, trốn thuế. Bảo đảm an toàn nợ công và tài chính quốc gia; tăng cường quản lý thu, tạo chuyển biến rõ nét trong việc chống thất thu, nợ đọng thuế. Giám sát chặt chẽ các khoản chi từ ngân sách Nhà nước; triệt để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tiết kiệm chi thường xuyên, mua sắm, hội họp… Rà soát, công khai, minh bạch giá thị trường tài sản công và đất đai, không để thất thoát đất đai, tài sản Nhà nước.

Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp; thúc đẩy sản xuất nông nghiệp gắn với nhu cầu của thị trường; kiểm soát tốt chất lượng hàng hóa nông sản. Thực hiện tốt công tác quản lý phân bón, vật tư nông nghiệp, chống hàng giả, hàng kém chất lượng. Thực hiện hiệu quả, đồng bộ các giải pháp về phòng chống thiên tai trong mùa mưa bão sắp tới. Theo dõi sát diễn biến tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi; thông tin, tuyên truyền kịp thời trên các phương tiện để người nông dân chủ động ứng phó và có biện pháp phòng tránh.

Theo dõi sát tình hình sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, ngành khai khoáng, khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường năng lực sản xuất, mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất khẩu. Kịp thời có giải pháp tháo gỡ khó khăn trong phát triển sản xuất công nghiệp. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng để sớm đưa các công trình công nghiệp trọng điểm đi vào hoạt động bảo đảm chất lượng, hiệu quả; sớm đề ra các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách trong đầu tư xây dựng. Có giải pháp thúc đẩy phát triển và kiểm soát thị trường bất động sản.


Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, phòng vệ thương mại và công tác thị trường để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất trong nước. Bảo vệ tốt các sản phẩm, thương hiệu Việt Nam; các bộ, ngành chức năng chấn chỉnh ngay việc cấp, xét duyệt, trao giải thưởng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, tránh tình trạng hàng hóa sản phẩm bị lợi dụng, làm trái.

Tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đã được đề ra về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Tăng cường hơn nữa các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch. Tạo thuận lợi cho du khách quốc tế đến Việt Nam, mở rộng áp dụng cấp thị thực điện tử.

Quyết liệt thực hiện các nghị quyết về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển doanh nghiệp; xử lý nghiêm các hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực, vi phạm pháp luật, sách nhiễu người dân và doanh nghiệp. Tập trung cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh; khuyến khích khởi nghiệp, phát huy tự do sáng tạo, trọng dụng nhân tài, huy động mọi nguồn lực cho phát triển. Tăng cường kỷ luật kỷ cương trong hệ thống hành chính và toàn xã hội. Chấn chỉnh ngay tình trạng thanh tra, kiểm tra tràn lan, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.

Tập trung triển khai các nhiệm vụ về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả gắn với tinh giản biên chế. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, tương tác giữa chính quyền với người dân, doanh nghiệp thông qua cơ chế một cửa, một cửa liên thông.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển y tế, văn hóa, giáo dục, chăm lo cho đời sống mọi mặt của người dân… Trong đó, tập trung triển khai hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới. Tăng cường các biện pháp bảm đảm trật tự an toàn giao thông, an toàn lao động, phòng chống cháy nổ.

Ngành y tế chủ động thực hiện các biện pháp, hoạt động phòng chống các bệnh truyền nhiễm, nhất là các dịch bệnh có khả năng bùng phát cao trong mùa hè. Nâng cao y đức, xử lý nghiêm các hành vi bạo lực đối với thầy thuốc, cán bộ y tế. Tăng cường hơn nữa thông tin, giáo dục, truyền thông về bảo đảm an toàn thực phẩm, nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ sức khỏe cộng đồng; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm liên quan đến an toàn thực phẩm.

Rà soát, chuẩn bị các điều kiện, tổ chức tốt kỳ thi trung học phổ thông, tuyển sinh đại học cao đẳng năm 2018. Quan tâm bảo đảm cơ sở vật chất trường học. Yêu cầu ngành y tế, ngành giáo dục, các địa phương chỉ đạo quyết liệt vấn đề bảo đảm vệ sinh trong các nhà vệ sinh ở trường học cũng như trong các bệnh viện.

Các cơ quan chức năng cần lưu ý thực hiện đồng bộ các giải pháp, sử dụng mọi biện pháp ngăn chặn các hoạt động lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và đời sống của người dân.

Không ngừng củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; không để bị động, bất ngờ trước mọi tình huống.

Thủ tướng cũng yêu cầu, các bộ, ngành, địa phương chủ động, cung cấp thông tin chính xác, kịp thời cho báo chí, xã hội về tình hình các mặt kinh tế-xã hội, góp phần định hướng dư luận, tạo đồng thuận xã hội; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân; triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mạng.

Về chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương 7, khóa XII và kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIV, Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành được giao nhiệm vụ khẩn trương hoàn thiện các báo cáo và đề án đã được Chính phủ phân công, chỉ đạo thực hiện, bảo đảm chất lượng và đúng thời gian quy định. Đồng thời, các bộ, ngành hữu quan chuẩn bị tốt nội dung cho các hội nghị chuyên đề quan trọng của Chính phủ sẽ được tổ chức vào tháng 5 và thời gian tới./.

Theo Thư viện pháp luật.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Lập tổ công tác đặc biệt chống trộm cắp trên xe buýt

Phần lớn đối tượng hoạt động trộm cắp, móc túi trên xe buýt đều nghiện ma túy và nhiễm HIV, sẵn sàng chống đối quyết liệt khi bị bắt giữ, không từ thủ đoạn nào.

Tình trạng trộm cắp trên xe buýt đã giảm so với trước

Bắt quả tang nhiều đối tượng

Tổ công tác đặc biệt hình thành trên cơ sở phối hợp giữa Trung tâm Kiểm tra giám sát (Tổng công ty Vận tải Hà Nội và Đội 5 Phòng Cảnh sát hình sự CATP) vừa bắt tại chỗ một đối tượng móc túi khi tên này đang thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của một hành khách người Hàn Quốc chuẩn bị lên xe buýt tuyến 27 tại điểm dừng 65 Nguyễn Trãi. Đối tượng sau đó khai nhận tên Đào Văn Huy (SN 1986, quê Hưng Yên) tạm trú tại phường Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy, Hà Nội.

Cách đó không lâu, tại điểm trung chuyển Long Biên, Tổ công tác đặc biệt này cũng bắt quả tang đối tượng Nguyễn Văn Hinh khi đang thực hiện hành vi trộm cắp chiếc điện thoại iPhone của một cô gái đang lên xe tuyến 14. Đối tượng Hinh được lực lượng chức năng đánh giá là khá nguy hiểm. Được biết, đối tượng này đã có 2 tiền án.

Việc các đối tượng phạm tội phần lớn là người tỉnh ngoài càng khiến công tác xử lý thêm phức tạp. Lúc lực lượng chức năng làm mạnh, chúng tạm lánh, qua đợt cao điểm lại tái xuất. Nhiều đối tượng bị bắt đi bắt lại 3, 4 lần, nhưng do hành vi chỉ ở mức bị xử lý hành chính nên vẫn cố tình tái phạm. Lực lượng kiểm tra giám sát cũng vì thế mà phải đối mặt với không ít khó khăn, nguy hiểm khi thực hiện nhiệm vụ.

Một đối tượng có tới 6 tiền án và 1 tiền sự tên Lê Thị Thúy Hằng (SN 1975) cũng bị phát hiện khi đang thực hiện hành vi móc túi của một hành khách lên xe tuyến 01 tại điểm trung chuyển xe buýt Long Biên. Tang vật thu được là 1 điện thoại iPhone 7plus.

Một trường hợp rất “quen” với Tổ công tác nhiều lần bị bắt tại chỗ khi đang thực hiện hành vi trộm cắp một lần nữa lại bị “tóm gọn” móc túi trộm cắp điện thoại iPhone 6s của một cô gái tại Long Biên. “Vị khách không mời” này tên Đỗ Thị Lan, sinh năm 1975, trú tại xã Chỉ Đạo, Văn Lâm, Hưng Yên, đã có 7 tiền án, 1 tiền sự về tội trộm cắp. Đây cũng chính là đối tượng đã từng phản ứng tiêu cực bằng cách lột đồ ăn vạ ngay cổng bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) khi bị bắt quả tang trước đó”, đại diện Trung tâm Kiểm tra giám sát Transerco cho biết.

Cũng theo vị này, phần lớn đối tượng hoạt động trộm cắp, móc túi trên xe buýt đều nghiện ma túy và nhiễm HIV, nhiều đối tượng ở giai đoạn cuối. Trong trạng thái cùng đường, không còn gì để mất, các đối tượng sẵn sàng chống đối quyết liệt khi bị bắt giữ, không từ thủ đoạn nào.

Đối tượng Lê Thị Thúy Hằng (SN 1975) bị bắt tại chỗ khi đang móc trộm điện thoại iPhone của khách tại điểm trung chuyển xe buýt Long Biên

Đào tạo kỹ năng chống tội phạm cho tài xế, nhân viên xe buýt

Trao đổi với Báo Giao thông, ông Phạm Mạnh Hùng, Trưởng Trung tâm Kiểm tra giám sát (Transerco) cho biết: Tình trạng trộm cắp trên xe buýt đã giảm rất nhiều so với trước đây nhờ sự quyết liệt của lực lượng chức năng. Tại các điểm dừng, nhà chờ, các điểm trung chuyển… đối tượng chủ yếu nhắm vào những hành khách chủ quan, không bảo quản cẩn thận tài sản có giá trị để thực hiện hành vi phạm pháp.

Cũng theo ông Hùng, việc tập trung vào các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ xe buýt của Transerco, trong đó có việc giảm thiểu nạn trộm cắp móc túi cũng như đảm bảo an ninh trật tự ở các điểm trung chuyển và trên xe giờ cao điểm luôn được lãnh đạo Transerco đặc biệt quan tâm. Tổ công tác đặc biệt phòng chống trộm cắp, móc túi trên xe buýt, tại các điểm trung chuyển lớn, các điểm có lượng hành khách đông do Tổng công ty phối hợp với Phòng CSĐT tội phạm về trật tự xã hội (PC45) thành lập ra đời cũng chính là để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này.

“Bản thân Trung tâm Kiểm tra giám sát đã chủ động cử cán bộ phối hợp cùng PC45 – CATP xây dựng kế hoạch triển khai theo dõi, quét vét các đối tượng trộm cắp móc túi tại các điểm trung chuyển xe buýt, các đầu bến bãi, các điểm nóng và trên xe buýt vào tất cả các múi giờ”, ông Hùng nói và cho biết thêm: Tổng công ty và Phòng Cảnh sát hình sự (PC45) cũng đã tổ chức dán số điện thoại đường dây nóng trên tất cả các xe của tổng công ty hoạt động trong lĩnh vực buýt. Việc làm này của Trung tâm Kiểm tra giám sát và PC45 đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ và chia sẻ thông tin của đông đảo hành khách. Qua đó, lực lượng chức năng luôn kịp thời nắm bắt những thông tin liên quan tới chất lượng vận tải hành khách công cộng để phối hợp xử lý.

Đặc biệt, lực lượng kiểm tra giám sát cũng đã được sự hỗ trợ của lãnh đạo tổng công ty và CATP về chuyên môn nghiệp vụ cũng như vật chất và tinh thần. Lãnh đạo tổng công ty cũng đã mời cán bộ PC45 giảng dạy về nghiệp vụ (hóa trang, trinh sát, khống chế và bắt giữ tội phạm…) cho toàn bộ nhân viên kiểm tra giám sát.

Đến nay, tình hình tội phạm hình sự trên các tuyến, các điểm dừng đỗ, các điểm trung chuyển xe buýt đã giảm cơ bản, không còn diễn ra công khai, nhức nhối như trước, tạo sự an tâm và lấy lại được lòng tin của hành khách khi đi xe buýt.

Theo Báo Giao thông.

Categories
Khác

Tự do thông tin tại Việt Nam gắn với bảo vệ quyền lợi công dân

Ở Việt Nam, mọi công dân đều bình đẳng và tự do trong việc tiếp cận thông tin – Điều này được ghi nhận trong Luật tiếp cận thông tin 2016 (bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2018).
Từ những thông tin liên quan trực tiếp đến lợi ích kinh tế của người dân, như quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giá đất; thu hồi đất; phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn cho đến những thông tin mang tính vĩ mô, như chiến lược, chương trình, dự án, đề án, kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, địa phương; quy hoạch ngành, lĩnh vực và phương thức, kết quả thực hiện; chương trình, kế hoạch công tác hằng năm của cơ quan nhà nước… thì công dân đều được tự do tiếp cận.

Mọi hành vi cản trở, đe dọa quyền tự do tiếp cận thông tin tin của người dân đều bị pháp luật nghiêm trị (tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự).

Nhưng chỉ dừng lại ở việc tiếp cận thông tin của công dân như trên là chưa đủ, báo chí với sứ mệnh của mình kèm với “đòn bẩy pháp lý” vững chắc – Luật tiếp cận thông tin 2016 có thể tiếp cận, thu thập thông tin, phân tích, bình luận, đánh giá và đưa tin một cách dễ hiểu nhất để người dân biết và bảo vệ quyền lợi của mình.

Ví dụ: Nếu người dân tiếp cận thông tin giá đất bồi thường sau khi thu hồi để làm Sân bay là 200.000 – 500.000 đồng/m2 thì thông tin chỉ đơn thuần là thông tin. Nhưng báo chí, cơ quan chức năng vào cuộc phân tích và đưa tin đến với công chúng khi nào thì được bồi thường 200.000 đồng/m2 khi nào là 500.000 đồng/m2, giá như vậy có phù hợp hay chưa, ở địa phương khác như thế nào, có đảm bảo được quyền lợi của người dân hay chưa… có như vậy sự tự do tiếp cận thông tin mới gắn liền với minh bạnh thông tin và đảm bảo quyền lợi của Nhân dân.

Điều 4. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí – Luật Báo chí 2016

…

2. Báo chí có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân;

b) Tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, Mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của Nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;

c) Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của Nhân dân;

d) Phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới, điển hình tiên tiến; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội;

đ) Góp phần giữ gìn sự trong sáng và phát triển tiếng Việt, tiếng của các dân tộc thiểu số Việt Nam;

e) Mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc, tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, hữu nghị, hợp tác, phát triển bền vững.


Để đảm bảo sự bình đẳng, tự do tiếp cận thông tin của mọi công dân nhưng không gây hại đến quyền lợi của công dân khác và đất nước thì một số thông tin nghiêm cấm người dân tiếp cận hoặc tiếp cận có điều kiện. Bao gồm:

– Thông tin thuộc bí mật nhà nước, bao gồm những thông tin có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ và các lĩnh vực khác theo quy định của luật.

– Thông tin mà nếu để tiếp cận sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh quốc gia, quan hệ quốc tế, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; gây nguy hại đến tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản của người khác; thông tin thuộc bí mật công tác; thông tin về cuộc họp nội bộ của cơ quan nhà nước; tài liệu do cơ quan nhà nước soạn thảo cho công việc nội bộ.

– Thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh được tiếp cận trong trường hợp chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó đồng ý.

– Thông tin liên quan đến bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân được tiếp cận trong trường hợp được người đó đồng ý; thông tin liên quan đến bí mật gia đình được tiếp cận trong trường hợp được các thành viên gia đình đồng ý.

Đồng thời, như đã trình bày ở trên, báo chí, cơ quan chức năng có quyền phân tích, bình luận, đánh giá thông tin mình thu thập được để phục vụ nhân dân. Tuy nhiên, sự phân tích, bình luận, đánh giá phải đúng sự thật khách quan chứ không được sai lệch, không sử dụng thông tin có được nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác.

Ví dụ: Cá nhân, tổ chức có quyền biết được thông tin sức khỏe của mình, người khác để có phương pháp chữa trị hiệu quả (nếu có bệnh); nhưng việc lợi dụng việc tự do tiếp cận thông tin để biết được người nào đó bị nhiễm HIV và thông tin công khai người đó bị nhiễm HIV một cách rộng rãi thì là vi phạm pháp luật.

Theo Thư viện pháp luật.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Chế độ tiền lương mới gắn với sắp xếp bộ máy hệ thống chính trị

Xây dựng chế độ tiền lương mới trong khu vực công, thực hiện từ năm 2021, gắn với lộ trình cải cách hành chính, tinh giản biên chế; đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập.

Mức điều chỉnh tiền lương và thu nhập tính đóng bảo hiểm xã hội 2018

Đây là mục tiêu của Đề án cải cách chính sách tiền lương, sẽ trình Hội nghị Trung ương 7 tới đây.

Đề án đưa ra mục tiêu, xác định mức tiền lương thấp nhất của khu vực công (là mức tiền lương của người làm công việc yêu cầu trình độ đào tạo trung cấp) từ năm 2021 bảo đảm không thấp hơn mức lương thấp nhất của khu vực doanh nghiệp.

Đối với khu vực doanh nghiệp, thực hiện điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu vùng để đến năm 2020 đảm bảo mức sống tối thiểu. Giảm dần và tiến tới bãi bỏ sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào chính sách tiền lương của doanh nghiệp.

Theo đó, đối với khu vực công, những công việc thừa hành, phục vụ (yêu cầu trình độ dưới trung cấp) thực hiện thống nhất chế độ hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động (hoặc hợp đồng cung cấp dịch vụ), không áp dụng bảng lương công chức, viên chức. Thiết kế cơ cấu tiền lương và tiền thưởng mới gồm: Mức lương cơ bản (chiếm khoảng 70% tổng quỹ lương), các khoản phụ cấp (chiếm khoảng 30% tổng quỹ lương) và tiền thưởng (bằng khoảng 10% tổng quỹ lương).

Hệ thống bảng lương mới sẽ được ban hành (quy định bằng số tiền tuyệt đối thay cho việc quy định hệ số lương nhân với mức lương cơ sở) theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo trên sở điều chỉnh tăng mức lương thấp nhất và mở rộng quan hệ tiền lương tiệm cận với khu vực thị trường.

Hệ thống bảng lương này gồm một bảng lương chức vụ áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo (bầu cử và bổ nhiệm) trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cấp xã; một bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo; ba bảng lương đối với lực lượng vũ trang, gồm: một bảng lương sĩ quan quân đội, sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ công an (theo chức vụ, chức danh và cấp bậc quân hàm/cấp hàm), một bảng lương quân nhân chuyên nghiệp, chuyên môn kỹ thuật công an và một bảng lương công nhân quốc phòng, công nhân công an.

Cũng theo Đề án, sắp xếp lại các chế độ phụ cấp hiện hành, bảo đảm tổng quỹ phụ cấp chiếm tối đa 30% trong tổng quỹ lương. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị được sử dụng quỹ tiền lương và kinh phí chi thường xuyên được giao hằng năm để thuê chuyên gia, nhà khoa học, tài năng đặc biệt. Mở rộng thí điểm cơ chế áp dụng đối với một số tỉnh, thành phố ở vùng động lực được chi thu nhập bình quân tăng thêm không quá 0,8 lần. Thực hiện khoán quỹ lương cho các cơ quan, đơn vị. Bãi bỏ hệ số tiền lương tăng thêm đối với cán bộ, công chức thuộc các cơ quan đang thực hiện cơ chế tài chính đặc thù khi thực hiện bảng lương mới.

Đối với khu vực doanh nghiệp, tiếp tục hoàn thiện chính sách về tiền lương tối thiểu vùng; bổ sung quy định mức lương tối thiểu vùng theo giờ. Doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp 100% vốn nhà nước) được tự chủ quyết định chính sách tiền lương (trong đó có thang, bảng lương, định mức lao động) và trả lương phù hợp với tổ chức sản xuất, tổ chức lao động, khả năng của doanh nghiệp. Tách bạch tiền lương của người đại diện vốn nhà nước với tiền lương của Ban điều hành; thực hiện nguyên tắc ai thuê, bổ nhiệm thì người đó đánh giá và trả lương. Từng bước tiến tới thuê Hội đồng thành viên độc lập và trả lương cho Hội đồng thành viên, kiểm soát viên từ lợi nhuận sau thuế./.

Theo TTXVN/Thời báo tài chính Việt Nam online.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Chính phủ họp phiên thường kỳ tháng 4/2018

Sáng nay (3/5), dưới sự chủ trì của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chính phủ tiến hành họp phiên thường kỳ tháng 4/2018, tháng tiếp tục có những chỉ số tích cực.

Chính phủ họp phiên thường kỳ tháng 4/2018

Tại phiên họp này, Chính phủ sẽ đánh giá tình hình KT-XH tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2018; nghe báo cáo về giải pháp tính GDP của khu vực kinh tế chưa quan sát; công tác chuẩn bị phục vụ kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIV; kiểm điểm tình hình thực hiện Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2018 và tình hình ban hành các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật, Pháp lệnh 4 tháng đầu năm 2018 và một số nội dung khác.

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định, lạm phát được kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng tháng 4 tăng 0,08% so với tháng trước, bình quân 4 tháng tăng 2,80% so với cùng kỳ.

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 9,4% cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước, trong đó, ngành chế biến chế tạo tăng 12,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 9,8%, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 8,5% (cùng kỳ là 7,0%).

Xuất khẩu hàng hóa tiếp tục đà phát triển, tổng kim ngạch 4 tháng đạt 73,76 tỷ USD, tăng 19%. Cơ cấu chuyển dịch tích cực, trong đó nhóm hàng công nghiệp chế biến tăng 26,3%, chiếm khoảng 83,3%. Tổng kim ngạch nhập khẩu tăng 10,1%, chủ yếu là nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị phục vụ phục vụ sản xuất và xuất khẩu. Xuất siêu đạt 3,39 tỷ USD, góp phần quan trọng cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.

Khách quốc tế đến Việt Nam tiếp tục tăng mạnh đạt trên 5,5 triệu lượt, tăng 29%.

Cả nước có trên 41 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 4,3% về số doanh nghiệp và tăng 11,5% về số vốn so với cùng kỳ.

Cổng TTĐT Chính phủ sẽ cập nhật thông tin về phiên họp này.

Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ.

Categories
Khác

Có phải thu lợi quá 30 triệu đồng từ cho vay nặng lãi sẽ bị đi tù?

Anh trai tôi vay 200 triệu đồng và một tháng phải trả lãi 15 triệu đồng. (Nguyễn Trung Chí)

Tuần trước, anh tôi bị chủ nợ khống chế để gây sức ép yêu cầu gia đình thanh toán tiền. Cả nhà tôi hiện rất lo sợ và muốn báo công an nhờ can thiệp.

Tôi muốn hỏi, công an có giải quyết những việc như thế này không?


Trả lời:
Bộ luật Dân sự 2015 quy định lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

Theo thông tin cung cấp, anh bạn vay 200 triệu và phải trả lãi đến 15 triệu/tháng, như vậy mức lãi suất đã vượt quá nhiều lần theo quy định của pháp luật hiện hành. Trong trường hợp đó, nếu xảy ra tranh chấp, gia đình bạn có đủ bằng chứng chứng minh trường hợp bạn vay tiền của người kia là vay nặng lãi thì gia đình bạn sẽ chỉ phải trả số tiền gốc cùng với số tiền lãi tính theo lãi suất của Ngân hàng Nhà nước.

Về hình thức xử lý của tội cho vay nặng lãi, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm mà hành vi này có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo điểm d khoản 3 điều 11 Nghị định số 167/2013 ngày 12/11/2013, hành vi “cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay” có thể bị phạt tiền 5-15 triệu đồng.

Ngoài ra, hành vi của những người cho anh bạn vay tiền còn có thể bị truy tố tội cho vay nặng lãi theo quy định của Bộ luật Hình sự theo điều 201 – tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền 50-200 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính 100-200 triệu đồng đến một tỷ đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 30-100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định 1-5 năm.

Ngoài ra, hành vi bắt, giữ người để ép phải trả tiền còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật quy định tại Điều 157 BLHS hoặc tội Cưỡng đoạt tài sản quy định tại điều 170 Bộ luật Hình sự 2015.

Theo Vnexpress.

Categories
Khác Kiến thức pháp luật Tin tức trong nước Tư vấn pháp luật

Các lỗi vi phạm giao thông được nộp phạt trực tiếp cho CSGT

Anh Nguyễn Văn Quý (Nông Cống, Thanh Hóa) thắc mắc: “CSGT có được quyền xử phạt và thu tiền phạt của người vi phạm giao thông hay không? Nếu có thì cho tôi xin căn cứ pháp lý?”.
Về vấn đề này, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Căn cứ vào Điều 56 của Luật xử phạt vi phạm hành chính 2012, Điều 15 Thông tư 01/2016/TT-BCA), Nghị định 46/2016/NĐ-CP thì CSGT sẽ xử phạt vi phạm không lập biên bản (CSGT ra quyết định xử phạt tại chỗ, người vi phạm nộp tiền trực tiếp cho CSGT) được áp dụng trong các trường hợp sau đây:

– Xử phạt cảnh cáo (không phải nộp tiền và không lập biên bản); hoặc

– Phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức (nộp tiền phạt tại chỗ).

(Lưu ý: Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì phải lập biên bản).

Theo Thư viện pháp luật.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Hồ sơ, trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014

Giải thể doanh nghiệp là một trong những thủ tục quy định tại Luật Doanh nghiệp để doanh nghiệp thực hiện việc rút lui khỏi thị trường. Việc giải thể doanh nghiệp không chỉ làm phát sinh quan hệ giữa các thành viên trong nội bộ doanh nghiệp mà còn là quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể khác, bao gồm bạn hàng, đối tác, người lao động trong doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước. Đây là những quan hệ liên quan đến tài sản và liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước. Hoạt động giải thể chỉ được coi là hoàn thành nếu doanh nghiệp đã xử lý xong mối quan hệ với tất cả các chủ thể nói trên. Vì vậy, việc giải thể doanh nghiệp phải tuân theo những thủ tục nhất định. Bài viết dưới đây sẽ phân tích cụ thể về hồ sơ, trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 cũng như trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của các bên có liên quan.


I. Về trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp
1. Đối với trường hợp “giải thể tự nguyện”
Bước 1: Thông qua quyết định giải thể công ty
Để có thể tiến hành giải thể doanh nghiệp trước hết doanh nghiệp cần tổ chức họp để thông qua quyết định giải thể. Theo đó, việc giải thể phải được thông qua bởi chủ sở hữu đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, bởi Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, bởi Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần và bởi các thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh.
Quyết định này thể hiện sự nhất trí của các thành viên về các vấn đề liên quan đến lý do giải thể; thời hạn, thủ tục thanh lý hợp đồng và thanh toán các khoản nợ; phương án xử lý các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng lao động và việc thành lập tổ thanh lý tài sản.
Quyết định giải thể doanh nghiệp phải có các nội dung chủ yếu sau:
– Tên, địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp;
– Lý do giải thể;
– Thời hạn, thủ tục thanh lý hợp đồng và thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp; thời hạn thanh toán nợ, thanh lý hợp đồng không được vượt quá 06 tháng, kể từ ngày thông qua quyết định giải thể;
– Phương án xử lý các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng lao động;
– Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Bước 2: Thông báo công khai quyết định giải thể
Sau khi quyết định giải thể được thông qua, doanh nghiệp phải thông báo cho những người có quyền và lợi ích liên quan đến hoạt động giải thể doanh nghiệp biết về quyết định giải thể. Trường hợp doanh nghiệp còn nghĩa vụ tài chính chưa thanh toán thì phải gửi kèm theo quyết định giải thể phương án giải quyết nợ đến các chủ nợ, người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan. Thông báo phải có tên, địa chỉ của chủ nợ; số nợ, thời hạn, địa điểm và phương thức thanh toán số nợ đó; cách thức và thời hạn giải quyết khiếu nại của chủ nợ.
Bước 3: Thanh lý tài sản và thanh toán các khoản nợ của công ty
Khoản 2 và Khoản 5 Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về người tổ chức thanh lý tài sản và thứ tự thanh toán nợ. Theo đó, chủ doanh nghiệp tư nhân, Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty, Hội đồng quản trị trực tiếp tổ chức thanh lý tài sản doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định thành lập tổ chức thanh lý riêng.
Các khoản nợ của doanh nghiệp được thanh toán theo thứ tự sau:
(1) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;
(2) Nợ thuế;
(3) Các khoản nợ khác.
Sau khi đã thanh toán hết các khoản nợ và chi phí giải thể doanh nghiệp, phần còn lại thuộc về chủ thể doanh nghiệp tư nhân, các thành viên, cổ đông hoặc chủ sở hữu công ty.
Theo Điểm c Khoản 1 Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì thời hạn thanh lý hợp đồng không được vượt quá 06 tháng, kể từ ngày thông qua quyết định giải thể.
Một số ý kiến cho rằng, thời gian này chỉ phù hợp với những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, không có mối quan hệ giao dịch phức tạp, tài sản có tính thanh khoản cao. Với những doanh nghiệp có quy mô lớn hoặc có nhiều tài sản (như bất động sản), cần thời gian dài để thanh lý và trả nợ thì thời gian này có thể sẽ không đủ để giải quyết hết các hợp đồng và thanh toán công nợ.
Việc thanh toán các khoản nợ là rất phức tạp vì cần phải quy định một trình tự phù hợp nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của những người liên quan.
Bước 4: Nộp hồ sơ giải thể
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 203 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp gửi hồ sơ giải thể đến Cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày thanh toán hết các khoản nợ của doanh nghiệp. Hồ sơ giải thể doanh nghiệp cũng được quy định cụ thể tại Điều 204 Luật này.
Bước 5: Cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
Khoản 8 Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định việc giải thể doanh nghiệp thực hiện theo hai phương thức:
– Trường hợp giải thể theo hồ sơ, Điều 59 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy định sau khi nhận được hồ sơ giải thể của doanh nghiệp, cơ quan đăng ký kinh doanh gửi thông tin về việc doanh nghiệp đăng ký giải thể cho cơ quan thuế. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin của cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế gửi ý kiến về việc giải thể của doanh nghiệp đến cơ quan đăng ký kinh doanh.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ giải thể, Cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
– Trường hợp giải thể tự động, sau thời hạn 180 ngày, kể từ ngày thông báo tình trạng giải thể doanh nghiệp mà không nhận phản đối của bên có liên quan bằng văn bản, cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi cơ quan thuế sẽ phải khẩn trương thực hiện thủ tục quyết toán thuế cho doanh nghiệp.Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng bổ sung quy định về giải thể doanh nghiệp trong trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc theo quyết định của Tòa án.

Sơ đồ: Quy trình giải thể doanh nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014

2. Đối với trường hợp “giải thể bắt buộc”
Bước 1: Cơ quan đăng ký kinh doanh thông báo tình trạng doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
Cơ quan đăng ký kinh doanh phải thông báo tình trạng doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đồng thời với việc ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc ngay sau khi nhận được quyết định giải thể của Tòa án đã có hiệu lực thi hành. Kèm theo thông báo còn phải đăng tải quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định của Tòa án.
Bước 2: Ra quyết định giải thể và gửi quyết định này đến cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, người lao động trong doanh nghiệp và công khai quyết định này
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực, doanh nghiệp phải triệu tập họp để ra quyết định giải thể. Doanh nghiệp phải gửi quyết định giải thể và bản sao quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật đến cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, người lao động trong doanh nghiệp. Quyết định giải thể phải được niêm yết công khai tại trụ sở chính, chi nhánh của doanh nghiệp. Trong một số trường hợp mà pháp luật có yêu cầu phải đăng báo thì quyết định giải thể doanh nghiệp phải được đăng ít nhất trên một tờ báo viết hoặc báo điện tử trong ba số liên tiếp.
Trường hợp doanh nghiệp còn nghĩa vụ tài chính chưa thanh toán thì phải gửi kèm theo quyết định giải thể phương án giải quyết nợ đến các chủ nợ, người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan. Thông báo phải có tên, địa chỉ của chủ nợ; số nợ, thời hạn, địa điểm và phương thức thanh toán số nợ đó; cách thức và thời hạn giải quyết khiếu nại của chủ nợ.
Bước 3: Tổ chức thanh lý tài sản và thanh toán các khoản nợ
Bước 4: Nộp yêu cầu giải thể doanh nghiệp
Bước 5: Cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật trình trạng pháp lý của doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
Trình tự, cách thức thực hiện tại các bước 3, 4, 5 thực hiện tương tự như trường hợp giải thể tự nguyện.
II. Về hồ sơ giải thể
Khoản 1 Điều 204 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định hồ sơ giải thể doanh nghiệp bao gồm các giấy tờ sau:
– Thông báo về giải thể doanh nghiệp;
– Báo cáo thanh lý tài sản doanh nghiệp; danh sách chủ nợ và số nợ đã thanh toán, gồm cả thanh toán hết các khoản nợ về thuế và nợ tiền đóng bảo hiểm xã hội, người lao động sau khi quyết định giải thể doanh nghiệp (nếu có);
– Con dấu và giấy chứng nhận mẫu dấu (nếu có);
– Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
III. Về trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của các bên có liên quan
Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về việc đảm bảo quyền và lợi ích của các bên có liên quan đến việc giải thể của doanh nghiệp như sau:
1. Về trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp đối với việc giải thể doanh nghiệp
Khoản 2, Khoản 3 Điều 204 Luật Doanh nghiệp năm 2014 có quy định về trách nhiệm cá nhân đối với tính trung thực, chính xác của hồ sơ giải thể doanh nghiệp. Theo đó, thành viên Hội đồng quản trị công ty cổ phần, thành viên Hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu công ty, chủ doanh nghiệp tư nhân, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, thành viên hợp danh, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của hồ sơ giải thể doanh nghiệp. Trường hợp hồ sơ giải thể không chính xác, giả mạo, những người nêu trên phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán số nợ chưa thanh toán, số thuế chưa nộp và quyền lợi của người lao động chưa được giải quyết và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về những hệ quả phát sinh trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày nộp hồ sơ giải thể doanh nghiệp đến cơ quan đăng ký kinh doanh.
2. Về các hoạt động bị cấm kể từ khi có quyết định giải thể
Điều 205 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định kể từ khi có quyết định giải thể doanh nghiệp, nghiêm cấm doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sau đây:
– Cất giấu, tẩu tán tài sản;
– Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ;
– Chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành các khoản nợ có bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp;
– Ký kết hợp đồng mới trừ trường hợp để thực hiện giải thể doanh nghiệp;
– Cầm cố, thế chấp, tặng cho, cho thuê tài sản;
– Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực;
– Huy động vốn dưới mọi hình thức.
Việc quy định các hành vi bị cấm nêu trên là nhằm ngăn chặn phát sinh thêm quyền và nghĩa vụ dẫn đến làm giảm khả năng trả nợ của doanh nghiệp, đồng thời, hạn chế việc doanh nghiệp tẩu tán tài sản, trốn tránh các nghĩa vụ với các đối tác trong quá trình hoạt động, gây ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan.

Theo Cục Quản lý đăng ký kinh doanh.