Categories
Kiến thức pháp luật Nghiên cứu và bình luận

Dấu hiệu định lượng thiệt hại của các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin

Dấu hiệu định lượng thiệt hại lần đầu tiên được quy định trong các điều luật quy định các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông trong Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015. Căn cứ theo mức độ phản ánh khác nhau, dấu hiệu định lượng thiệt hại được chia thành dấu hiệu định lượng thiệt hại định tội và dấu hiệu định lượng thiệt hại định khung tăng nặng.

 

Căn cứ theo loại thiệt hại, dấu hiệu định lượng thiệt hại được phân làm 5 loại khác nhau, gồm:
(1) Hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
(2) An toàn thông tin, dữ liệu mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử;
(3) Số lượng người dùng, phương tiện điện tử bị ảnh hưởng;
(4) Lợi ích vật chất bị hủy hoại, hư hỏng, mất mát;
(5) Lợi ích bất chính mà người phạm tội thu được.

Cơ sở lý luận

Hậu quả của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông là thiệt hại gây ra cho quan hệ xã hội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Thiệt hại được thể hiện thông qua sự biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm. Trong khi đó, đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm bị hành vi phạm tội tác động và qua đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Về mặt lý luận, bộ phận của khách thể bị tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông tác động có thể là chủ thể của quan hệ xã hội, nội dung của quan hệ xã hội và đối tượng của quan hệ xã hội. Đối tượng tác động của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông ở Việt Nam gồm:

(1) Hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông xâm hại khách thể bảo vệ của loại tội phạm này bằng cách làm biến đổi hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân: Cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức hoặc biến dạng xử sự bình thường của người khác. Ví dụ, hành vi ngăn chặn trái phép việc truyền tải dữ liệu của mạng máy tính làm đình trệ hoạt động của cơ quan, tổ chức từ 24 giờ đến 72 giờ (Điều 287) là hành vi cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức; hành vi đưa lên mạng máy tính những thông tin trái quy định của pháp luật xâm phạm bí mật thông tin cá nhân dẫn đến người bị xâm phạm tự sát (Điều 288) là hành vi làm biến dạng xử sự bình thường của con người.


(Ảnh minh họa)

(2) Đối tượng của quan hệ xã hội là những sự vật hoặc lợi ích mà qua đó quan hệ xã hội phát sinh và tồn tại. Đối tượng của quan hệ xã hội bị tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông xâm hại, làm thay đổi bao gồm:

– An toàn thông tin, dữ liệu, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử: Theo khoản 1 Điều 3 Luật An toàn thông tin mạng, an toàn thông tin mạng là sự bảo vệ thông tin, hệ thống thông tin trên mạng tránh bị truy nhập, sử dụng, tiết lộ, gián đoạn, sửa đổi hoặc phá hoại trái phép nhằm bảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính khả dụng của thông tin. Hậu quả của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông sẽ làm mất an toàn thông tin mạng, dẫn đến một trong ba thuộc tính sau đây của an toàn thông tin mạng bị xâm hại, gồm: Tính nguyên vẹn, tính bảo mật, tính khả dụng.

+ Tính nguyên vẹn: Thông tin mạng phải đảm bảo tính chính xác so với nguyên gốc được tạo ra trong quá trình lưu giữ, khai thác, sử dụng. Hậu quả của tội phạm làm thông tin, dữ liệu mạng bị hủy hoại, thay đổi thêm bớt, giả mạo…

+ Tính bảo mật: Thông tin mạng phải được bảo mật, chỉ người có quyền hợp pháp mới được truy cập vào, khai thác, sử dụng, công bố… Hậu quả của tội phạm gây ra khi thông tin mạng bị truy cập, khai thác, sử dụng, công bố bất hợp pháp (cho dù dữ liệu đó không bị hủy hoại, thay đổi).

+ Tính khả dụng: Khả năng sẵn sàng để khai thác, sử dụng của thông tin mạng. Hậu quả của tội phạm làm cho thông tin mạng không sử dụng được bình thường hoặc bị gián đoạn khi sử dụng.

– Lợi ích vật chất bị hủy hoại, hư hỏng, mất mát do hành vi phạm tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông gây ra.

– Lợi ích bất chính mà người phạm tội thu được thông qua việc phạm tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông.

Dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông có thể mô tả bằng định tính hoặc định lượng. Mô tả định tính là mô tả về tính chất nguy hiểm hoặc nghiêm trọng của hậu quả đó. Mô tả định lượng là mô tả hậu quả của tội phạm bằng các con số cụ thể. Việc quy định về thiệt hại gây ra cho khách thể dẫn đến sự biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động thể hiện qua mô tả các dấu hiệu phản ánh hậu quả của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Các dấu hiệu định lượng thiệt hại quy định trong các điều luật về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông gồm:

(1) Hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân: Thiệt hại về hoạt động bình thường được định lượng bằng đơn vị thời gian bị ngừng, gián đoạn hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức do tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông gây ra. Ví dụ: Làm đình trệ hoạt động của cơ quan, tổ chức từ 24 giờ đến 72 giờ (điểm d khoản 1 Điều 287 BLHS). Thiệt hại về hoạt động bình thường của cá nhân được xác định thông qua sự biến dạng xử sự của cá nhân như hành vi tự sát của nạn nhân (điểm đ khoản 2 Điều 288 BLHS).

(2) An toàn thông tin, dữ liệu mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử, gồm các loại dấu hiệu:

– Dấu hiệu phản ánh hậu quả tính bảo mật của thông tin mạng bị xâm hại: Thể hiện qua số lượng thông tin, dữ liệu bị công bố bất hợp pháp. Ví dụ: Công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng từ 20 tài khoản đến dưới 50 tài khoản (khoản 1 Điều 291 BLHS).

– Dấu hiệu phản ánh tính khả dụng của thông tin mạng bị xâm hại. Dấu hiệu loại này có thể định lượng theo đơn vị thời gian bị xâm hại. Ví dụ: Làm tê liệt, gián đoạn, ngưng trệ hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử từ 30 phút đến 24 giờ (điểm c khoản 1 Điều 287). Hoặc định lượng theo số lần bị tê liệt, gián đoạn, ngưng trệ trong một thời gian nhất định. Ví dụ: Làm tê liệt, gián đoạn, ngưng trệ hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử từ 3 lần đến dưới 10 lần trong thời gian 24 giờ (điểm c khoản 1 Điều 287 BLHS).

(3) Số lượng người dùng, phương tiện điện tử bị ảnh hưởng được phản ánh thông qua số lượng thực tế máy tính, phương tiện điện tử bị ảnh hưởng do hành vi phạm tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông gây ra. Ví dụ: Làm lây nhiễm từ 50 phương tiện điện tử đến dưới 200 phương tiện điện tử (điểm c khoản 1 Điều 286 BLHS). Dấu hiệu này cũng có thể được định lượng thông qua số người sử dụng phương tiện điện tử bị ảnh hưởng. Ví dụ: Làm lây nhiễm hệ thống thông tin có từ 50 đến dưới 200 người sử dụng (điểm c khoản 1 Điều 286 BLHS).

(4) Lợi ích vật chất bị hủy hoại, hư hỏng, mất mát phản ánh thông qua giá trị bằng tiền những hư hỏng, hủy hoại, mất mát do tội phạm gây ra như: Gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng (điểm b khoản 1 Điều 286 BLHS).

(5) Lợi ích bất chính mà người phạm tội thu được được định lượng bằng tiền đối với mọi lợi ích bất chính mà người phạm tội có được do phạm tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Ví dụ: Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng (điểm a khoản 1 Điều 286 BLHS).

(ảnh minh họa)

Cơ sở thực tiễn

Việc quy định các dấu hiệu thiệt hại trong các tội phạm thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông xuất phát từ nhu cầu thống nhất về nhận thức và áp dụng các quy định về dấu hiệu định tội và định khung hình phạt để xác định tội phạm và khung hình phạt, đối với những cấu thành tội phạm mô tả định tính thiệt hại do tội phạm gây ra.

Các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông được quy định trong BLHS năm 1999 không quy định dấu hiệu định lượng thiệt hại. Thông tư liên tịch số 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTT&TT-VKSNDTC-TANDTC ngày 10/9/2012 của liên ngành Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Thông tin và Truyền thông, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về một số tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, trong đó hướng dẫn định lượng thiệt hại do các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông gây ra được quy thành tiền Việt Nam đồng:

– Dấu hiệu hậu quả gây thiệt hại: Thiệt hại nghiêm trọng là gây thiệt hại từ 50 đến dưới 200 triệu đồng; rất nghiêm trọng là gây thiệt hại từ 200 đến dưới 500 triệu đồng; đặc biệt nghiêm trọng là gây thiệt hại từ 500 triệu đồng trở lên.

– Dấu hiệu thu lợi bất chính: Thu lợi bất chính lớn là thu lợi bất chính từ 20 đến dưới 100 triệu đồng; rất lớn hoặc đặc biệt lớn là thu lợi từ 100 triệu đồng trở lên.

Như vậy, hướng dẫn trên đơn giản, đa số các thiệt hại đều được quy thành tiền, trong khi hậu quả của tội phạm rất đa dạng, không phải trường hợp nào cũng quy được thành tiền, dẫn đến nhiều bất cập khi áp dụng trong các tội phạm này.

Dấu hiệu định lượng thiệt hại của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông

Căn cứ các tiêu chí phân loại khác nhau, dấu hiệu định lượng thiệt hại của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông theo BLHS năm 2015 được chia thành các nhóm khác khau.

Theo mức độ phản ánh hậu quả của tội phạm: Căn cứ theo tiêu chí này, dấu hiệu định lượng thiệt hại của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông được chia thành hai loại là dấu hiệu định lượng thiệt hại phản ánh trong cấu thành cơ bản và dấu hiệu định lượng thiệt hại phản ánh trong cấu thành tăng nặng trách nhiệm hình sự.

(1) Dấu hiệu định lượng thiệt hại phản ánh trong cấu thành cơ bản của các điều luật thuộc nhóm tội phạm lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông là những dấu hiệu hậu quả thiệt hại dùng để định tội. Có 6/9 điều luật của nhóm tội này có dấu hiệu định lượng thiệt hại là dấu hiệu định tội, gồm các điều 286, 287, 288, 291, 293, 294. Như vậy, việc quy định định lượng thiệt hại đối với loại tội phạm này khá phổ biến, quy định định lượng tối đa thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật.

(2) Dấu hiệu định lượng thiệt hại dùng để định khung tăng nặng là những dấu hiệu phản ánh hậu quả của tội phạm trong cấu thành tăng nặng của các điều luật của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Tất cả các điều luật thuộc nhóm tội phạm này trong cấu thành tăng nặng đều có dấu hiệu định lượng thiệt hại.

Theo loại thiệt hại khác nhau của tội phạm: Căn cứ theo tiêu chí này, dấu hiệu định lượng thiệt hại của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông theo BLHS năm 2015 được chia thành các loại sau:

(1) Dấu hiệu định lượng thiệt hại về hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thể hiện qua việc cơ quan, tổ chức bị đình trệ hoạt động do tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông gây ra. Thiệt hại được tính bằng số giờ bị đình trệ hoạt động từ 24 giờ trở lên. Dấu hiệu này còn được thể hiện thông qua sự biến đổi xử sự của cá nhân (xử sự tiêu cực) như làm nạn nhân tự sát.

Dấu hiệu này được quy định trong tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều 287 BLHS năm 2015). Đây vừa là dấu hiệu định tội “làm đình trệ hoạt động của cơ quan, tổ chức từ 24 giờ đến 72 giờ” (điểm d khoản 1 Điều 287); vừa là dấu hiệu định khung tăng nặng: Làm đình trệ hoạt động của cơ quan, tổ chức từ 72 giờ đến 168 giờ (điểm g khoản 2 Điều 287) hoặc từ 168 giờ trở lên (điểm e khoản 3 Điều 287 BLHS năm 2015). Đối với dấu hiệu “người bị xâm phạm tự sát” là dấu hiệu định khung tăng nặng thuộc khoản 2 Điều 288 (tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông).

(2) Dấu hiệu định lượng thiệt hại về an toàn thông tin, dữ liệu mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử, có các dạng sau:

Thứ nhất, dấu hiệu định lượng thiệt hại về tính bảo mật của thông tin mạng thể hiện thông qua số lượng thông tin, dữ liệu bị thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai trái phép. Dấu hiệu này vừa là dấu hiệu định tội “thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng từ 20 tài khoản đến dưới 50 tài khoản” (khoản 1 Điều 291); vừa là dấu hiệu định khung tăng nặng nếu thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác từ 50 tài khoản đến dưới 200 tài khoản (điểm a khoản 2 Điều 291) hoặc từ 200 tài khoản trở lên (điểm a khoản 3 Điều 291).

Thứ hai, dấu hiệu định lượng thiệt hại về tính khả dụng của thông tin mạng. Thiệt hại này thể hiện sự tê liệt, gián đoạn, ngưng trệ hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử, được tính theo thời gian từ 30 phút trở lên hoặc theo số lần từ 3 lần trở lên trong thời gian 24 giờ. Đây vừa là dấu hiệu định tội tại điểm c khoản 1 Điều 287 (Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử) và là dấu hiệu định khung tăng nặng điểm e khoản 3, điểm d khoản 3 Điều 287).

(3) Dấu hiệu định lượng thiệt hại là số lượng người dùng, phương tiện điện tử bị ảnh hưởng tính theo số lượng phương tiện hoặc tính theo số người sử dụng. Dấu hiệu này được quy định là dấu hiệu định tội đối với tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (điểm c khoản 1 Điều 286) “làm lây nhiễm từ 50 phương tiện điện tử đến dưới 200 phương tiện điện tử hoặc hệ thống thông tin có từ 50 sử dụng đến dưới 200 người sử dụng”. Dấu hiệu này cũng là dấu hiệu định khung tăng nặng quy định tại điểm d khoản 2, điểm đ khoản 3 Điều 286.

(4) Dấu hiệu định lượng thiệt hại là lợi ích vật chất bị hủy hoại, hư hỏng, mất mát do hành vi phạm tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông gây ra. Thiệt hại này được quy thành một số tiền nhất định. Đây vừa là dấu hiệu định tội, vừa là dấu hiệu định khung tăng nặng phổ biến ở hầu hết các điều luật trong nhóm tội phạm trong lĩnh vực này. Dấu hiệu này là dấu hiệu định tội đối với 5/9 tội, gồm: Điểm b khoản 1 Điều 286, điểm b khoản 1 Điều 287, khoản 1 Điều 288, khoản 1 Điều 293, khoản 1 Điều 294. Dấu hiệu này là dấu hiệu định khung tăng nặng đối với 13/15 khung tăng nặng của 7/9 điều luật trong nhóm tội này (trừ Điều 290, 291), cho thấy mức độ phổ biến của dấu hiệu này trong việc định lượng thiệt hại đối với các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông.

(5) Dấu hiệu định lượng thiệt hại là những lợi ích bất chính mà người phạm tội thu được, chiếm đoạt được. Thiệt hại này được quy thành một khoản tiền nhất định, thể hiện dưới dạng “thu lợi bất chính” hoặc “doanh thu” bất chính hoặc giá trị tài sản mà người phạm tội đã chiếm đoạt. Đây cũng là dấu hiệu khá phổ biến, vừa được coi là dấu hiệu định tội của 3 tội gồm: Điểm a khoản 1 Điều 286, điểm a khoản 1 Điều 287, khoản 1 Điều 291. Dấu hiệu này cũng là dấu hiệu định khung tăng nặng của 12/14 khung tăng nặng của 7/9 điều luật trong nhóm tội này (trừ Điều 293, 294).

(Trích Tạp chí Kiểm sát số 18/2017)

Categories
Khác Tin tức trong nước

Lập tổ công tác đặc biệt chống trộm cắp trên xe buýt

Phần lớn đối tượng hoạt động trộm cắp, móc túi trên xe buýt đều nghiện ma túy và nhiễm HIV, sẵn sàng chống đối quyết liệt khi bị bắt giữ, không từ thủ đoạn nào.

Tình trạng trộm cắp trên xe buýt đã giảm so với trước

Bắt quả tang nhiều đối tượng

Tổ công tác đặc biệt hình thành trên cơ sở phối hợp giữa Trung tâm Kiểm tra giám sát (Tổng công ty Vận tải Hà Nội và Đội 5 Phòng Cảnh sát hình sự CATP) vừa bắt tại chỗ một đối tượng móc túi khi tên này đang thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của một hành khách người Hàn Quốc chuẩn bị lên xe buýt tuyến 27 tại điểm dừng 65 Nguyễn Trãi. Đối tượng sau đó khai nhận tên Đào Văn Huy (SN 1986, quê Hưng Yên) tạm trú tại phường Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy, Hà Nội.

Cách đó không lâu, tại điểm trung chuyển Long Biên, Tổ công tác đặc biệt này cũng bắt quả tang đối tượng Nguyễn Văn Hinh khi đang thực hiện hành vi trộm cắp chiếc điện thoại iPhone của một cô gái đang lên xe tuyến 14. Đối tượng Hinh được lực lượng chức năng đánh giá là khá nguy hiểm. Được biết, đối tượng này đã có 2 tiền án.

Việc các đối tượng phạm tội phần lớn là người tỉnh ngoài càng khiến công tác xử lý thêm phức tạp. Lúc lực lượng chức năng làm mạnh, chúng tạm lánh, qua đợt cao điểm lại tái xuất. Nhiều đối tượng bị bắt đi bắt lại 3, 4 lần, nhưng do hành vi chỉ ở mức bị xử lý hành chính nên vẫn cố tình tái phạm. Lực lượng kiểm tra giám sát cũng vì thế mà phải đối mặt với không ít khó khăn, nguy hiểm khi thực hiện nhiệm vụ.

Một đối tượng có tới 6 tiền án và 1 tiền sự tên Lê Thị Thúy Hằng (SN 1975) cũng bị phát hiện khi đang thực hiện hành vi móc túi của một hành khách lên xe tuyến 01 tại điểm trung chuyển xe buýt Long Biên. Tang vật thu được là 1 điện thoại iPhone 7plus.

Một trường hợp rất “quen” với Tổ công tác nhiều lần bị bắt tại chỗ khi đang thực hiện hành vi trộm cắp một lần nữa lại bị “tóm gọn” móc túi trộm cắp điện thoại iPhone 6s của một cô gái tại Long Biên. “Vị khách không mời” này tên Đỗ Thị Lan, sinh năm 1975, trú tại xã Chỉ Đạo, Văn Lâm, Hưng Yên, đã có 7 tiền án, 1 tiền sự về tội trộm cắp. Đây cũng chính là đối tượng đã từng phản ứng tiêu cực bằng cách lột đồ ăn vạ ngay cổng bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) khi bị bắt quả tang trước đó”, đại diện Trung tâm Kiểm tra giám sát Transerco cho biết.

Cũng theo vị này, phần lớn đối tượng hoạt động trộm cắp, móc túi trên xe buýt đều nghiện ma túy và nhiễm HIV, nhiều đối tượng ở giai đoạn cuối. Trong trạng thái cùng đường, không còn gì để mất, các đối tượng sẵn sàng chống đối quyết liệt khi bị bắt giữ, không từ thủ đoạn nào.

Đối tượng Lê Thị Thúy Hằng (SN 1975) bị bắt tại chỗ khi đang móc trộm điện thoại iPhone của khách tại điểm trung chuyển xe buýt Long Biên

Đào tạo kỹ năng chống tội phạm cho tài xế, nhân viên xe buýt

Trao đổi với Báo Giao thông, ông Phạm Mạnh Hùng, Trưởng Trung tâm Kiểm tra giám sát (Transerco) cho biết: Tình trạng trộm cắp trên xe buýt đã giảm rất nhiều so với trước đây nhờ sự quyết liệt của lực lượng chức năng. Tại các điểm dừng, nhà chờ, các điểm trung chuyển… đối tượng chủ yếu nhắm vào những hành khách chủ quan, không bảo quản cẩn thận tài sản có giá trị để thực hiện hành vi phạm pháp.

Cũng theo ông Hùng, việc tập trung vào các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ xe buýt của Transerco, trong đó có việc giảm thiểu nạn trộm cắp móc túi cũng như đảm bảo an ninh trật tự ở các điểm trung chuyển và trên xe giờ cao điểm luôn được lãnh đạo Transerco đặc biệt quan tâm. Tổ công tác đặc biệt phòng chống trộm cắp, móc túi trên xe buýt, tại các điểm trung chuyển lớn, các điểm có lượng hành khách đông do Tổng công ty phối hợp với Phòng CSĐT tội phạm về trật tự xã hội (PC45) thành lập ra đời cũng chính là để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này.

“Bản thân Trung tâm Kiểm tra giám sát đã chủ động cử cán bộ phối hợp cùng PC45 – CATP xây dựng kế hoạch triển khai theo dõi, quét vét các đối tượng trộm cắp móc túi tại các điểm trung chuyển xe buýt, các đầu bến bãi, các điểm nóng và trên xe buýt vào tất cả các múi giờ”, ông Hùng nói và cho biết thêm: Tổng công ty và Phòng Cảnh sát hình sự (PC45) cũng đã tổ chức dán số điện thoại đường dây nóng trên tất cả các xe của tổng công ty hoạt động trong lĩnh vực buýt. Việc làm này của Trung tâm Kiểm tra giám sát và PC45 đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ và chia sẻ thông tin của đông đảo hành khách. Qua đó, lực lượng chức năng luôn kịp thời nắm bắt những thông tin liên quan tới chất lượng vận tải hành khách công cộng để phối hợp xử lý.

Đặc biệt, lực lượng kiểm tra giám sát cũng đã được sự hỗ trợ của lãnh đạo tổng công ty và CATP về chuyên môn nghiệp vụ cũng như vật chất và tinh thần. Lãnh đạo tổng công ty cũng đã mời cán bộ PC45 giảng dạy về nghiệp vụ (hóa trang, trinh sát, khống chế và bắt giữ tội phạm…) cho toàn bộ nhân viên kiểm tra giám sát.

Đến nay, tình hình tội phạm hình sự trên các tuyến, các điểm dừng đỗ, các điểm trung chuyển xe buýt đã giảm cơ bản, không còn diễn ra công khai, nhức nhối như trước, tạo sự an tâm và lấy lại được lòng tin của hành khách khi đi xe buýt.

Theo Báo Giao thông.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Cần áp dụng hình phạt theo hướng có lợi nhất cho người chưa thành niên

Trong những năm gần đây, tỷ lệ tội phạm do thanh thiếu niên thực hiện ở nước ta đang ngày càng gia tăng với nhiều vụ việc gây chấn động dư luận cả nước. Đối với các tội do người chưa thành niên gây ra thì cần áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng với mục đích giáo dục để thay đổi nhận thức và hành vi của các đối tượng này chứ không dừng ở xử lý hình sự nhằm trừng phạt đơn thuần.

Ảnh minh họa.

Một yêu cầu nữa đặt ra khi xử lý hình sự người chưa thành niên phạm tội là phải bảo đảm được quyền của người chưa thành niên phù hợp với Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 mà Việt Nam là thành viên. Với đặc điểm tâm lý của người chưa thành niên là chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm sinh lý như người trưởng thành nên hệ thống tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên phải được xem xét riêng biệt, khác với người trưởng thành.

Tham khảo pháp luật một số nước như Anh, Nhật Bản, Thái Lan…, pháp luật các nước này đều thể hiện nguyên tắc khoan hồng đối với người chưa thành niên phạm tội thông qua giảm nhẹ hình phạt và không áp dụng hình phạt mà áp dụng biện pháp thay thế. Khi không áp dụng hình phạt thì người chưa thành niên ở Thái Lan được áp dụng các biện pháp thay thế xử lý hình sự như: cảnh cáo, giám sát tại gia đình, giám sát tại nơi cư trú, đưa đến trường giáo dưỡng.

Để phù hợp với xu thế chung của pháp luật quốc tế, Việt Nam cần sớm có luật về tư pháp đối với người chưa thành niên để kết nối quy định từ hành chính tới hình sự, bảo đảm việc xử lý người chưa thành niên phạm tội theo đúng trình tự, thủ tục, không chồng chéo hay mâu thuẫn trong quá trình áp dụng. Hiện nay, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã quy định nguyên tắc áp dụng các biện pháp thay thế xử lý hình sự ở Điều 90. Các biện pháp đó là khiển trách (Điều 91), hòa giải tại cộng đồng (Điều 92), giám sát giáo dục tại gia đình hoặc giám sát giáo dục của cơ quan, tổ chức (Điều 93). Tuy nhiên, các biện pháp này vẫn chờ những quy định về thủ tục để việc áp dụng mang lại hiệu quả, bảo đảm được các quyền của người chưa thành niên phạm tội và giúp họ thấy đó là cơ hội để thực sự hối lỗi, cải tạo, thay đổi bản thân thành người có nhân cách tốt có thể tái hòa nhập cộng đồng sau này.

Về áp dụng hình phạt và các biện pháp xử lý thay thế đối với người chưa thành niên phạm tội nên ưu tiên tối đa việc áp dụng các biện pháp phi hình phạt hoặc các hình phạt không nhằm mục đích giam giữ nhằm mục đích cải tạo người chưa thành niên phạm tội. Chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng và khi thực sự cần cách ly người chưa thành niên phạm tội để bảo vệ an toàn của cộng đồng.

Hiện nay, thời hạn tối đa áp dụng biện pháp phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội đã được quy định cụ thể. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù. Nếu là tù có thời hạn, mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 3/4 mức phạt tù mà điều luật quy định. Với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù, nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất không quá 1/2 mức phạt tù mà điều luật quy định.

Có thể thấy rằng việc áp dụng nguyên tắc hình phạt theo hướng có lợi nhất cho người chưa thành niên và áp dụng các biện pháp thay thế xử lý hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội là sự tiến bộ của tư pháp hình sự nhiều nước trên thế giới. Việt Nam cũng đang tiếp nhận theo hướng này để quy định bảo vệ quyền của người chưa thành niên phạm tội. Tuy nhiên, việc thực thi các quy định này cần phải được thực hiện một cách thống nhất, đồng bộ từ phía các cơ quan, tổ chức cũng như đề cao hơn nữa trách nhiệm của gia đình, nhà trường, của các cơ quan chuyên trách và toàn xã hội trong việc bảo vệ và chăm sóc người chưa thành niên. Có như vậy mới thực sự giáo dục, thay đổi được nhận thức, phát triển nhân cách của các đối tượng này theo chiều hướng tích cực hơn./.

Theo Pháp luật Việt Nam.