Categories
Kiến thức pháp luật Nghiên cứu và bình luận

Giải pháp hạn chế mức độ ẩn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tội phạm ẩn không chỉ là vấn đề thống kê tội phạm, mà còn có ảnh hưởng trực tiếp tới công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản không chỉ gây thiệt hại to lớn về tài sản cho nhà nước, xã hội và công dân mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình trật tự an toàn xã hội. Gần đây, hàng loạt những vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản lớn đã được đưa ra xét xử trong thời gian vừa qua như: Vụ án Huỳnh Thị Huyền Như lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều ngân hàng và cá nhân với tổng số tiền hơn 4.900 tỷ đồng; vụ án Lê Xuân Giang, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty liên kết Việt và đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt 2.000 tỷ đồng của 60.000 người; vụ Chu Minh Ngọc, Giám đốc Công ty Cimco cùng đồng bọn lập khống hồ sơ mua bán thép để hợp thức hồ sơ vay vốn lừa đảo chiếm đoạt 1.124 tỷ đồng của 7 ngân hàng; vụ Phan Bá Tòng, Giám đốc Công ty TNHH xuất nhập khẩu thủy sản Thiên Mã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt 700 tỷ đồng của các ngân hàng và khách hàng; vụ Công ty Cổ phần thương mại đầu tư Phúc Gia Bảo lừa đảo chiếm đoạt 178 tỷ đồng.

Các nhà nghiên cứu tội phạm học cũng đã xác định: “Các tội phạm kinh tế là những tội phạm có độ ẩn cao. Số liệu thống kê về những tội phạm đã được phát hiện, điều tra và xử lý chỉ phản ánh một phần của tội phạm đã xảy ra, còn một phần quan trọng khác mà cơ quan pháp luật chưa nắm bắt được, chưa phát hiện được” (*).

Nguyên nhân “ẩn” của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tỷ lệ tội phạm ẩn làm sai lệch đánh giá thực trạng tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bởi nó sẽ làm sai lệch đi những dự báo tội phạm gây khó khăn cho hoạch định chính sách, kế hoạch phòng, chống tội phạm. Không chỉ vậy, việc tính toán thiếu chính xác tỷ lệ tội phạm ẩn còn làm giảm uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Một bộ phận đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm nhưng lại chưa bị xử lý hình sự gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm tăng tỷ lệ tái phạm tội. Đặc biệt, tội phạm ẩn làm sai lệch nguyên tắc “không thể tránh khỏi sự trừng phạt của pháp luật đối với các hành vi phạm tội”.

Nghiên cứu về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, có thể thấy tội phạm này ẩn bởi một số nguyên nhân như sau:

Thứ nhất, không giống với các tội phạm hình sự khác, hành vi mang tính bạo lực thể hiện tương đối rõ thì tội phạm kinh tế nói chung, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng, sắc thái “trí lực” giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động của tội phạm, đặc biệt với những đối tượng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc chức năng đấu tranh của lực lượng Cảnh sát kinh tế. Đây là tội phạm thuộc chức năng đấu tranh của cả lực lượng Cảnh sát hình sự và lực lượng Cảnh sát kinh tế, tuy nhiên, trong phân định phạm vi, thẩm quyền, lực lượng Cảnh sát kinh tế tiến hành đấu tranh với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong trường hợp đối tượng lợi dụng tư cách pháp nhân, thông qua ký kết hợp đồng kinh tế. Do vậy, phương thức, thủ đoạn của đối tượng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc chức năng đấu tranh của lực lượng Cảnh sát kinh tế thường phức tạp, đa dạng, tinh vi và khó phát hiện hơn. Hoạt động của các đối tượng thường sử dụng các nghiệp vụ quản lý kinh tế, thành lập công ty làm “bình phong” cho hoạt động phạm tội. Đây chính là một trong những nguyên nhân làm gia tăng độ ẩn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Thứ hai, khác với một số tội phạm xâm phạm trực tiếp đến quyền nhân thân, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâm phạm đến quyền tài sản. Căn cứ Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác. Chính vì vậy, hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhiều trường hợp không được tố giác kịp thời do khó nhận biết hơn, hiểu biết pháp luật của một bộ phận quần chúng nhân dân còn thấp, chưa có thói quen đối chiếu hành vi và quy phạm pháp luật hay quần chúng nhân dân không đánh giá được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Thứ ba, trong một số trường hợp, người bị hại trong các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng có thể có lợi ích liên quan đến tội phạm hoặc có trách nhiệm liên quan đến việc thất thoát tài sản. Những nguyên nhân này đã làm nảy sinh tâm lý không muốn hoặc ngần ngại khi tố giác hành vi phạm tội đến cơ quan chức năng. Ví dụ như những vụ án lừa đảo chiếm đoạt tiền thuế giá trị gia tăng của nhà nước, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của những tập đoàn kinh tế nhà nước… Nhóm nguyên nhân này chủ yếu xuất hiện ở những bị hại là các cơ quan nhà nước, tài sản bị chiếm đoạt là những tài sản chung, người có lợi ích hoặc trách nhiệm liên quan là những người có trách nhiệm quản lý, bảo quản tài sản, như: Nhân viên ngân hàng, thủ kho, thủ quỹ… Đối với nhóm bị hại này nếu như cơ quan Công an không tự chủ động thu thập thông tin thì hành vi phạm tội sẽ rất dễ bị ẩn.

Thứ tư, thực tiễn có những trường hợp người bị hại tin rằng cơ quan chức năng không thể thu hồi được tài sản cho mình, do vậy, họ đã tìm đến các phương thức khác “ngoài luật pháp”. Một bộ phận người bị hại thiếu hiểu biết pháp luật hoặc do những nguyên nhân khác làm “nản lòng” họ. Trạng thái tâm lý này cũng là nguyên nhân góp phần làm gia tăng tỷ lệ ẩn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Thứ năm, tình trạng một số văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý kinh tế phức tạp, việc phân biệt giữa tội phạm kinh tế và các tranh chấp kinh tế dân sự khác không phải là điều dễ dàng. Chẳng hạn như việc xác định thủ đoạn gian dối trong tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) với hành vi lừa dối (được quy định tại Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2015) là vấn đề nảy sinh nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn. Hay việc xác định thế nào là chiếm đoạt, thời điểm chiếm đoạt tài sản trong một số tình huống cụ thể cũng gây nhiều tranh cãi… Những bất cập này dẫn tới việc nhìn nhận, đánh giá hành vi dễ bị phi hình sự hóa hành vi có dấu hiệu của tội phạm, làm gia tăng tỷ lệ tội phạm ẩn.

Thứ sáu, tỷ lệ ẩn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn có nguyên nhân một phần từ việc tổ chức tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm chưa hợp lý, những người được phân công làm nhiệm vụ tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm trình độ yếu. Không phủ nhận, ở một số đơn vị còn xảy ra tình trạng xem nhẹ việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm nói chung, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng. Việc cán bộ tiếp nhận tin báo về tội phạm hình thức, không khai thác triệt để tin báo, tố giác gây khó khăn cho công tác điều tra sau này, thậm chí không còn địa chỉ liên hệ của người báo tin.

Thứ bảy, hoạt động phòng ngừa và điều tra của cơ quan chức năng còn hạn chế, thiếu sót; cụ thể, trong hoạt động phòng ngừa, tình trạng đối tượng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nằm ngoài diện quản lý nghiệp vụ còn chiếm tỷ lệ cao; công tác tổ chức nguồn tin chưa được quan tâm đúng mức, phần lớn nguồn tin của các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản hiện nay đưa đến từ những người bị hại; các biện pháp ngăn chặn chưa được đầu tư nhiều… Đối với hoạt động điều tra, công tác mở rộng vụ án để phát hiện đường dây phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn yếu; chất lượng điều tra còn hạn chế và tiến độ điều tra còn chậm làm giảm tính răn đe của pháp luật đối với tội phạm…

Giải pháp hạn chế tỷ lệ ẩn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Từ việc nghiên cứu, xác định những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ ẩn cao của tình trạng tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong những năm qua, tác giả đề xuất một số giải pháp góp phần hạn chế tỷ lệ ẩn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản thời gian tới như sau:

Một là, tham mưu, hoàn thiện những quy định của hệ thống pháp luật về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, như: Phân định rõ hơn hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với những hành vi thuộc về tranh chấp kinh tế, dân sự; hướng dẫn cụ thể về thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt trong tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản; quy định còn mơ hồ, trừu tượng trong một số lĩnh vực kinh tế liên quan khác, như: Ngân hàng, bất động sản, chứng khoán, thương mại… Những quy định rõ ràng của hệ thống chính sách pháp luật tạo thuận lợi cho hoạt động của cơ quan chức năng đấu tranh phòng, chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, góp phần làm giảm tỷ lệ tội phạm ẩn.

Hai là, tăng cường phổ biến, giáo dục kiến thức pháp luật cho người dân. Mục đích của hoạt động này là nhằm nâng cao ý thức tự bảo quản tài sản cho quần chúng nhân dân, nhận thức được những thủ đoạn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản để tránh trở thành bị hại của loại tội phạm này, hơn thế nữa, quần chúng nhân dân còn có thể cung cấp thông tin, tố giác tội phạm, kéo giảm tỷ lệ tội phạm ẩn. Nội dung hướng tới việc phổ biến kiến thức pháp luật hình sự quy định về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, những quy định về hợp đồng, tài sản… trong Bộ luật Dân sự.

Ba là, tổ chức tốt công tác vận động quần chúng tố giác tội phạm. Đây được coi là giải pháp hữu hiệu đối với việc làm giảm tỷ lệ tội phạm ẩn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cảnh sát kinh tế có thể thực hiện công tác này bằng nhiều hoạt động khác nhau như: Phối hợp với các cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức, hội… để vận động. Thông qua công tác này, lực lượng Cảnh sát kinh tế sẽ thu thập được nhiều hơn những thông tin phản ánh về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bổ sung tài liệu hỗ trợ việc phát hiện, quản lý đối tượng cũng như ngăn chặn hoạt động phạm tội của tội phạm.

Bốn là, nâng cao hiệu quả hoạt động tiếp nhận và xử lý tin báo về tội phạm. Xác định đây là một trong những nguồn thông tin phục vụ cho phát hiện, điều tra tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lực lượng Cảnh sát kinh tế cần tổ chức cán bộ hợp lý có trình độ năng lực, thực hiện đúng quy trình, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ thực hiện công tác này. Từ việc tiếp nhận tin báo bài bản sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ ẩn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong thời gian tới.

Năm là, nâng cao chất lượng tiến hành hoạt động phòng ngừa, điều tra tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo chức năng của lực lượng Cảnh sát kinh tế. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát kinh tế cần không ngừng học tập kinh nghiệm, hoàn thiện bản thân, trau dồi kiến thức pháp luật, nghiệp vụ phục vụ cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bên cạnh đó, tăng cường mối quan hệ phối hợp với các cơ quan Viện kiểm sát, Tòa án tiến hành điều tra, xét xử các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản đúng tiến độ, nghiêm minh, đúng người, đúng tội cũng có tác dụng hỗ trợ cho mục tiêu làm giảm tỷ lệ tội phạm ẩn của tội phạm này./.

(Trích Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm)

Categories
Kiến thức pháp luật Nghiên cứu và bình luận

Dấu hiệu định lượng thiệt hại của các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin

Dấu hiệu định lượng thiệt hại lần đầu tiên được quy định trong các điều luật quy định các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông trong Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015. Căn cứ theo mức độ phản ánh khác nhau, dấu hiệu định lượng thiệt hại được chia thành dấu hiệu định lượng thiệt hại định tội và dấu hiệu định lượng thiệt hại định khung tăng nặng.

 

Căn cứ theo loại thiệt hại, dấu hiệu định lượng thiệt hại được phân làm 5 loại khác nhau, gồm:
(1) Hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
(2) An toàn thông tin, dữ liệu mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử;
(3) Số lượng người dùng, phương tiện điện tử bị ảnh hưởng;
(4) Lợi ích vật chất bị hủy hoại, hư hỏng, mất mát;
(5) Lợi ích bất chính mà người phạm tội thu được.

Cơ sở lý luận

Hậu quả của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông là thiệt hại gây ra cho quan hệ xã hội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Thiệt hại được thể hiện thông qua sự biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm. Trong khi đó, đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm bị hành vi phạm tội tác động và qua đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Về mặt lý luận, bộ phận của khách thể bị tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông tác động có thể là chủ thể của quan hệ xã hội, nội dung của quan hệ xã hội và đối tượng của quan hệ xã hội. Đối tượng tác động của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông ở Việt Nam gồm:

(1) Hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông xâm hại khách thể bảo vệ của loại tội phạm này bằng cách làm biến đổi hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân: Cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức hoặc biến dạng xử sự bình thường của người khác. Ví dụ, hành vi ngăn chặn trái phép việc truyền tải dữ liệu của mạng máy tính làm đình trệ hoạt động của cơ quan, tổ chức từ 24 giờ đến 72 giờ (Điều 287) là hành vi cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức; hành vi đưa lên mạng máy tính những thông tin trái quy định của pháp luật xâm phạm bí mật thông tin cá nhân dẫn đến người bị xâm phạm tự sát (Điều 288) là hành vi làm biến dạng xử sự bình thường của con người.


(Ảnh minh họa)

(2) Đối tượng của quan hệ xã hội là những sự vật hoặc lợi ích mà qua đó quan hệ xã hội phát sinh và tồn tại. Đối tượng của quan hệ xã hội bị tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông xâm hại, làm thay đổi bao gồm:

– An toàn thông tin, dữ liệu, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử: Theo khoản 1 Điều 3 Luật An toàn thông tin mạng, an toàn thông tin mạng là sự bảo vệ thông tin, hệ thống thông tin trên mạng tránh bị truy nhập, sử dụng, tiết lộ, gián đoạn, sửa đổi hoặc phá hoại trái phép nhằm bảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính khả dụng của thông tin. Hậu quả của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông sẽ làm mất an toàn thông tin mạng, dẫn đến một trong ba thuộc tính sau đây của an toàn thông tin mạng bị xâm hại, gồm: Tính nguyên vẹn, tính bảo mật, tính khả dụng.

+ Tính nguyên vẹn: Thông tin mạng phải đảm bảo tính chính xác so với nguyên gốc được tạo ra trong quá trình lưu giữ, khai thác, sử dụng. Hậu quả của tội phạm làm thông tin, dữ liệu mạng bị hủy hoại, thay đổi thêm bớt, giả mạo…

+ Tính bảo mật: Thông tin mạng phải được bảo mật, chỉ người có quyền hợp pháp mới được truy cập vào, khai thác, sử dụng, công bố… Hậu quả của tội phạm gây ra khi thông tin mạng bị truy cập, khai thác, sử dụng, công bố bất hợp pháp (cho dù dữ liệu đó không bị hủy hoại, thay đổi).

+ Tính khả dụng: Khả năng sẵn sàng để khai thác, sử dụng của thông tin mạng. Hậu quả của tội phạm làm cho thông tin mạng không sử dụng được bình thường hoặc bị gián đoạn khi sử dụng.

– Lợi ích vật chất bị hủy hoại, hư hỏng, mất mát do hành vi phạm tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông gây ra.

– Lợi ích bất chính mà người phạm tội thu được thông qua việc phạm tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông.

Dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông có thể mô tả bằng định tính hoặc định lượng. Mô tả định tính là mô tả về tính chất nguy hiểm hoặc nghiêm trọng của hậu quả đó. Mô tả định lượng là mô tả hậu quả của tội phạm bằng các con số cụ thể. Việc quy định về thiệt hại gây ra cho khách thể dẫn đến sự biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động thể hiện qua mô tả các dấu hiệu phản ánh hậu quả của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Các dấu hiệu định lượng thiệt hại quy định trong các điều luật về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông gồm:

(1) Hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân: Thiệt hại về hoạt động bình thường được định lượng bằng đơn vị thời gian bị ngừng, gián đoạn hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức do tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông gây ra. Ví dụ: Làm đình trệ hoạt động của cơ quan, tổ chức từ 24 giờ đến 72 giờ (điểm d khoản 1 Điều 287 BLHS). Thiệt hại về hoạt động bình thường của cá nhân được xác định thông qua sự biến dạng xử sự của cá nhân như hành vi tự sát của nạn nhân (điểm đ khoản 2 Điều 288 BLHS).

(2) An toàn thông tin, dữ liệu mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử, gồm các loại dấu hiệu:

– Dấu hiệu phản ánh hậu quả tính bảo mật của thông tin mạng bị xâm hại: Thể hiện qua số lượng thông tin, dữ liệu bị công bố bất hợp pháp. Ví dụ: Công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng từ 20 tài khoản đến dưới 50 tài khoản (khoản 1 Điều 291 BLHS).

– Dấu hiệu phản ánh tính khả dụng của thông tin mạng bị xâm hại. Dấu hiệu loại này có thể định lượng theo đơn vị thời gian bị xâm hại. Ví dụ: Làm tê liệt, gián đoạn, ngưng trệ hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử từ 30 phút đến 24 giờ (điểm c khoản 1 Điều 287). Hoặc định lượng theo số lần bị tê liệt, gián đoạn, ngưng trệ trong một thời gian nhất định. Ví dụ: Làm tê liệt, gián đoạn, ngưng trệ hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử từ 3 lần đến dưới 10 lần trong thời gian 24 giờ (điểm c khoản 1 Điều 287 BLHS).

(3) Số lượng người dùng, phương tiện điện tử bị ảnh hưởng được phản ánh thông qua số lượng thực tế máy tính, phương tiện điện tử bị ảnh hưởng do hành vi phạm tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông gây ra. Ví dụ: Làm lây nhiễm từ 50 phương tiện điện tử đến dưới 200 phương tiện điện tử (điểm c khoản 1 Điều 286 BLHS). Dấu hiệu này cũng có thể được định lượng thông qua số người sử dụng phương tiện điện tử bị ảnh hưởng. Ví dụ: Làm lây nhiễm hệ thống thông tin có từ 50 đến dưới 200 người sử dụng (điểm c khoản 1 Điều 286 BLHS).

(4) Lợi ích vật chất bị hủy hoại, hư hỏng, mất mát phản ánh thông qua giá trị bằng tiền những hư hỏng, hủy hoại, mất mát do tội phạm gây ra như: Gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng (điểm b khoản 1 Điều 286 BLHS).

(5) Lợi ích bất chính mà người phạm tội thu được được định lượng bằng tiền đối với mọi lợi ích bất chính mà người phạm tội có được do phạm tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Ví dụ: Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng (điểm a khoản 1 Điều 286 BLHS).

(ảnh minh họa)

Cơ sở thực tiễn

Việc quy định các dấu hiệu thiệt hại trong các tội phạm thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông xuất phát từ nhu cầu thống nhất về nhận thức và áp dụng các quy định về dấu hiệu định tội và định khung hình phạt để xác định tội phạm và khung hình phạt, đối với những cấu thành tội phạm mô tả định tính thiệt hại do tội phạm gây ra.

Các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông được quy định trong BLHS năm 1999 không quy định dấu hiệu định lượng thiệt hại. Thông tư liên tịch số 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTT&TT-VKSNDTC-TANDTC ngày 10/9/2012 của liên ngành Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Thông tin và Truyền thông, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về một số tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, trong đó hướng dẫn định lượng thiệt hại do các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông gây ra được quy thành tiền Việt Nam đồng:

– Dấu hiệu hậu quả gây thiệt hại: Thiệt hại nghiêm trọng là gây thiệt hại từ 50 đến dưới 200 triệu đồng; rất nghiêm trọng là gây thiệt hại từ 200 đến dưới 500 triệu đồng; đặc biệt nghiêm trọng là gây thiệt hại từ 500 triệu đồng trở lên.

– Dấu hiệu thu lợi bất chính: Thu lợi bất chính lớn là thu lợi bất chính từ 20 đến dưới 100 triệu đồng; rất lớn hoặc đặc biệt lớn là thu lợi từ 100 triệu đồng trở lên.

Như vậy, hướng dẫn trên đơn giản, đa số các thiệt hại đều được quy thành tiền, trong khi hậu quả của tội phạm rất đa dạng, không phải trường hợp nào cũng quy được thành tiền, dẫn đến nhiều bất cập khi áp dụng trong các tội phạm này.

Dấu hiệu định lượng thiệt hại của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông

Căn cứ các tiêu chí phân loại khác nhau, dấu hiệu định lượng thiệt hại của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông theo BLHS năm 2015 được chia thành các nhóm khác khau.

Theo mức độ phản ánh hậu quả của tội phạm: Căn cứ theo tiêu chí này, dấu hiệu định lượng thiệt hại của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông được chia thành hai loại là dấu hiệu định lượng thiệt hại phản ánh trong cấu thành cơ bản và dấu hiệu định lượng thiệt hại phản ánh trong cấu thành tăng nặng trách nhiệm hình sự.

(1) Dấu hiệu định lượng thiệt hại phản ánh trong cấu thành cơ bản của các điều luật thuộc nhóm tội phạm lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông là những dấu hiệu hậu quả thiệt hại dùng để định tội. Có 6/9 điều luật của nhóm tội này có dấu hiệu định lượng thiệt hại là dấu hiệu định tội, gồm các điều 286, 287, 288, 291, 293, 294. Như vậy, việc quy định định lượng thiệt hại đối với loại tội phạm này khá phổ biến, quy định định lượng tối đa thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật.

(2) Dấu hiệu định lượng thiệt hại dùng để định khung tăng nặng là những dấu hiệu phản ánh hậu quả của tội phạm trong cấu thành tăng nặng của các điều luật của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Tất cả các điều luật thuộc nhóm tội phạm này trong cấu thành tăng nặng đều có dấu hiệu định lượng thiệt hại.

Theo loại thiệt hại khác nhau của tội phạm: Căn cứ theo tiêu chí này, dấu hiệu định lượng thiệt hại của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông theo BLHS năm 2015 được chia thành các loại sau:

(1) Dấu hiệu định lượng thiệt hại về hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thể hiện qua việc cơ quan, tổ chức bị đình trệ hoạt động do tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông gây ra. Thiệt hại được tính bằng số giờ bị đình trệ hoạt động từ 24 giờ trở lên. Dấu hiệu này còn được thể hiện thông qua sự biến đổi xử sự của cá nhân (xử sự tiêu cực) như làm nạn nhân tự sát.

Dấu hiệu này được quy định trong tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều 287 BLHS năm 2015). Đây vừa là dấu hiệu định tội “làm đình trệ hoạt động của cơ quan, tổ chức từ 24 giờ đến 72 giờ” (điểm d khoản 1 Điều 287); vừa là dấu hiệu định khung tăng nặng: Làm đình trệ hoạt động của cơ quan, tổ chức từ 72 giờ đến 168 giờ (điểm g khoản 2 Điều 287) hoặc từ 168 giờ trở lên (điểm e khoản 3 Điều 287 BLHS năm 2015). Đối với dấu hiệu “người bị xâm phạm tự sát” là dấu hiệu định khung tăng nặng thuộc khoản 2 Điều 288 (tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông).

(2) Dấu hiệu định lượng thiệt hại về an toàn thông tin, dữ liệu mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử, có các dạng sau:

Thứ nhất, dấu hiệu định lượng thiệt hại về tính bảo mật của thông tin mạng thể hiện thông qua số lượng thông tin, dữ liệu bị thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai trái phép. Dấu hiệu này vừa là dấu hiệu định tội “thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng từ 20 tài khoản đến dưới 50 tài khoản” (khoản 1 Điều 291); vừa là dấu hiệu định khung tăng nặng nếu thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác từ 50 tài khoản đến dưới 200 tài khoản (điểm a khoản 2 Điều 291) hoặc từ 200 tài khoản trở lên (điểm a khoản 3 Điều 291).

Thứ hai, dấu hiệu định lượng thiệt hại về tính khả dụng của thông tin mạng. Thiệt hại này thể hiện sự tê liệt, gián đoạn, ngưng trệ hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử, được tính theo thời gian từ 30 phút trở lên hoặc theo số lần từ 3 lần trở lên trong thời gian 24 giờ. Đây vừa là dấu hiệu định tội tại điểm c khoản 1 Điều 287 (Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử) và là dấu hiệu định khung tăng nặng điểm e khoản 3, điểm d khoản 3 Điều 287).

(3) Dấu hiệu định lượng thiệt hại là số lượng người dùng, phương tiện điện tử bị ảnh hưởng tính theo số lượng phương tiện hoặc tính theo số người sử dụng. Dấu hiệu này được quy định là dấu hiệu định tội đối với tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (điểm c khoản 1 Điều 286) “làm lây nhiễm từ 50 phương tiện điện tử đến dưới 200 phương tiện điện tử hoặc hệ thống thông tin có từ 50 sử dụng đến dưới 200 người sử dụng”. Dấu hiệu này cũng là dấu hiệu định khung tăng nặng quy định tại điểm d khoản 2, điểm đ khoản 3 Điều 286.

(4) Dấu hiệu định lượng thiệt hại là lợi ích vật chất bị hủy hoại, hư hỏng, mất mát do hành vi phạm tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông gây ra. Thiệt hại này được quy thành một số tiền nhất định. Đây vừa là dấu hiệu định tội, vừa là dấu hiệu định khung tăng nặng phổ biến ở hầu hết các điều luật trong nhóm tội phạm trong lĩnh vực này. Dấu hiệu này là dấu hiệu định tội đối với 5/9 tội, gồm: Điểm b khoản 1 Điều 286, điểm b khoản 1 Điều 287, khoản 1 Điều 288, khoản 1 Điều 293, khoản 1 Điều 294. Dấu hiệu này là dấu hiệu định khung tăng nặng đối với 13/15 khung tăng nặng của 7/9 điều luật trong nhóm tội này (trừ Điều 290, 291), cho thấy mức độ phổ biến của dấu hiệu này trong việc định lượng thiệt hại đối với các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông.

(5) Dấu hiệu định lượng thiệt hại là những lợi ích bất chính mà người phạm tội thu được, chiếm đoạt được. Thiệt hại này được quy thành một khoản tiền nhất định, thể hiện dưới dạng “thu lợi bất chính” hoặc “doanh thu” bất chính hoặc giá trị tài sản mà người phạm tội đã chiếm đoạt. Đây cũng là dấu hiệu khá phổ biến, vừa được coi là dấu hiệu định tội của 3 tội gồm: Điểm a khoản 1 Điều 286, điểm a khoản 1 Điều 287, khoản 1 Điều 291. Dấu hiệu này cũng là dấu hiệu định khung tăng nặng của 12/14 khung tăng nặng của 7/9 điều luật trong nhóm tội này (trừ Điều 293, 294).

(Trích Tạp chí Kiểm sát số 18/2017)