Categories
Khác Tin tức quốc tế Tin tức trong nước

Thủ tướng Việt Nam – Philippines trao đổi về tình hình Biển Đông

Trao đổi tình hình hiện nay trên Biển Đông, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte nhấn mạnh tầm quan trọng của duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không; khẳng định nguyên tắc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Nhân dịp tham dự Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 32 tại Singapore, chiều 27/4, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc tiếp xúc song phương với Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Tổng thống Philippines Duterte

Tại cuộc gặp, hai bên chia sẻ các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm, trong đó có hợp tác trong ASEAN, các vấn đề an ninh khu vực như Biển Đông, chống tội phạm trên biển…

Hai bên chia sẻ tình hình hiện nay trên Biển Đông, nhấn mạnh tầm quan trọng của duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không; khẳng định nguyên tắc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS), ủng hộ thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), thúc đẩy ASEAN và Trung Quốc sớm hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu quả và ràng buộc.

Hai nhà lãnh đạo bày tỏ hài lòng trước quan hệ đối tác chiến lược tốt đẹp giữa hai nước thời gian qua với việc duy trì các cuộc tiếp xúc, trao đổi thực chất các vấn đề quan tâm, tăng cường hợp tác kinh tế-thương mại với kim ngạch hai chiều năm 2017 tăng 25% so với năm 2016, đạt hơn 4 tỷ USD, trong đó hợp tác thương mại gạo mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai bên; các cơ chế hợp tác, giao lưu trong lĩnh vực an ninh-quốc phòng được duy trì với nhiều hoạt động tạo dựng lòng tin.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị hai bên duy trì trao đổi đoàn cấp cao, đồng thời tích cực triển khai các cơ chế hợp tác, trong đó có hợp tác ứng phó sự cố tràn dầu và tìm kiếm cứu nạn trên biển, quản lý môi trường biển bền vững, đẩy mạnh hợp tác nghề cá, phòng chống khủng bố, hợp tác an ninh-quốc phòng…
Tổng thống Philippines nhấn mạnh Philippines coi trọng quan hệ hữu nghị hợp tác với Việt Nam; cảm ơn Chính phủ Việt Nam đã tạo điều kiện cho công dân Philippines sinh sống và làm việc, doanh nghiệp Philippines làm ăn hiệu quả tại Việt Nam.

Ông Duterte hoan nghênh các đề nghị của phía Việt Nam và bày tỏ Philippines sẵn sàng hợp tác với Việt Nam trong các lĩnh vực hai bên có thể bổ sung cho nhau. Tổng thống đánh giá cao chất lượng gạo của Việt Nam, mong muốn hai nước sẽ tiếp tục hợp tác về gạo và Việt Nam là nguồn cung cấp gạo ổn định và lâu dài cho Philippines.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc một lần nữa chúc mừng Philippines đã hoàn thành tốt đẹp nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN 2017, các kết quả đạt được trong 2017 đã giúp ASEAN tiếp tục phát triển, hướng tới xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN lấy người dân làm trung tâm.

Theo Dân trí.

Categories
Khác Tin tức quốc tế Tin tức trong nước

Tuyên bố chung về thiết lập Đối tác chiến lược Việt Nam – Australia

Trong khuôn khổ chuyến thăm Australia của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, hôm nay, 15/3, tại Canberra, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Australia Malcolm Turnbull đã ký Tuyên bố chung về thiết lập Đối tác chiến lược Việt Nam-Australia. Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung.

1. Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973, Việt Nam và Australia đã xây dựng mối quan hệ vững chắc và thực chất trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và các lợi ích chung. Sự tương đồng về lợi ích an ninh, kinh tế cũng như giao lưu nhân dân ngày càng sâu sắc là cơ sở giúp hai nước tăng cường quan hệ và hợp tác.

2. Quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam-Australia, thiết lập năm 2009 và được tăng cường năm 2015, là minh chứng cho những nỗ lực của Chính phủ và nhân dân hai nước cùng chung tay vun đắp quan hệ song phương.

3. Năm 2018 đánh dấu kỷ niệm 45 năm quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Australia, hai nước quyết định nâng cấp quan hệ song phương lên tầm Đối tác chiến lược nhân chuyến thăm chính thức Australia của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc.

4. Với việc thiết lập Đối tác chiến lược, Việt Nam và Australia khẳng định cam kết làm sâu sắc quan hệ hai nước trên cơ sở tôn trọng Hiến chương Liên Hợp Quốc, luật pháp quốc tế và chủ quyền, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ cũng như hệ thống chính trị của nhau. Hai bên sẽ tăng cường sự tin cậy và hiểu biết lẫn nhau nhằm làm sâu sắc quan hệ song phương, góp phần vào hòa bình, ổn định và thịnh vượng tại khu vực. Đặc biệt, hai bên cam kết cùng nỗ lực hợp tác nhằm duy trì một khu vực hòa bình, tự cường và bảo đảm các quy tắc, chuẩn mực đã tồn tại nhiều thập kỷ qua.

5. Chương trình Hành động Việt Nam-Australia giai đoạn 2016-2019 tiếp tục có hiệu lực và được gia hạn khi Tuyên bố chung này được ký kết.

Hợp tác song phương

Hợp tác chính trị

6. Hai bên cam kết làm sâu sắc hợp tác chính trị song phương, kể cả thông qua trao đổi đoàn cấp cao thường xuyên giữa Đảng Cộng sản, Chính phủ và Quốc hội Việt Nam, và các chính đảng, Chính phủ và Quốc hội Australia.

7. Để phù hợp với mối quan hệ hiện đại và năng động, hai bên sẽ tăng cường giao thiệp chính trị thông qua các hội nghị thường niên cấp bộ trưởng nhằm tranh thủ tối đa các cơ hội trao đổi quan điểm, ý tưởng và sáng kiến ​​về các vấn đề chiến lược. Hỗ trợ cho các trao đổi, tiếp xúc thường xuyên và cấp cao này là các cơ chế hợp tác song phương hiện có, bao gồm Đối thoại chiến lược 2+2, Đối thoại Việt Nam-Australia về quyền con người, Tham vấn lãnh sự Việt Nam-Australia và Diễn đàn nông nghiệp Việt Nam-Australia.

8. Hai bên cam kết tăng cường trao đổi chính trị về các vấn đề quốc tế và khu vực thông qua việc thiết lập cơ chế Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao thường niên.

9. Hai bên cam kết tăng cường tiếp xúc giữa các quan chức cấp cao nhằm đẩy mạnh hơn nữa hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế và thương mại, ngoại giao, quốc phòng, an ninh, pháp luật và tư pháp, khoa học, công nghệ, nông nghiệp, sáng tạo, giáo dục, và các lĩnh vực khác như lao động và du lịch.

Hợp tác kinh tế và phát triển

10. Hai bên cam kết làm sâu sắc quan hệ thương mại và đầu tư song phương, đồng thời tiếp tục thúc đẩy thương mại và đầu tư thông thoáng hơn thông qua hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu.

11. Trên cơ sở bổ trợ lẫn nhau của hai nền kinh tế, hai bên sẽ xúc tiến các biện pháp tiếp cận thị trường và thuận lợi hóa thương mại cho hàng hóa của nhau, bao gồm cả nông sản và hải sản.

12. Hai bên hoan nghênh việc thiết lập cơ chế Hội nghị Đối tác kinh tế thường niên cấp bộ trưởng để xác định các cơ hội mở rộng thương mại, đầu tư, hợp tác phát triển và cải cách kinh tế bền vững. Diễn đàn kinh tế mới này sẽ thay thế Ủy ban Hỗn hợp về hợp tác thương mại và kinh tế, giúp tăng cường đối thoại giữa các bộ trưởng chủ chốt phụ trách thương mại, đầu tư, phát triển và quy hoạch, đồng thời tạo sự đồng bộ giữa các khía cạnh khác nhau của liên kết kinh tế giữa hai nước.

13. Hai bên nhận thức rõ tầm quan trọng của mối liên kết mạnh mẽ và trực tiếp giữa các doanh nghiệp đối với quan hệ thương mại và đầu tư song phương. Hai bên khuyến khích doanh nghiệp hai nước đẩy mạnh kết nối và nâng cao hiểu biết về tính bổ trợ lẫn nhau của hai nền kinh tế, kể cả thông qua các đoàn doanh nghiệp và xúc tiến thương mại hai chiều.

14. Australia đánh giá cao những thành tựu to lớn về xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế của Việt Nam. Việt Nam hoan nghênh hỗ trợ phát triển chính thức song phương và khu vực nhiều năm qua của Australia. Hai bên cam kết xây dựng quan hệ đối tác kinh tế nhằm giúp Việt Nam thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội và phát triển, với trọng tâm là cải cách kinh tế, phát triển nguồn nhân lực, kết nối khu vực tư nhân, biến đổi khí hậu, bình đẳng giới và sáng tạo.

15. Hai bên sẽ tiếp tục xây dựng quan hệ đối tác cùng có lợi trong lĩnh vực nông nghiệp, bao gồm các dự án nghiên cứu chung và hỗ trợ kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực và khả năng cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam, thúc đẩy thực hiện các tiêu chuẩn quốc tế và chuỗi cung ứng tin cậy.

16. Hai bên cũng sẽ tăng cường hợp tác trong những lĩnh vực cùng có lợi như năng lượng, tài nguyên, kinh tế biển, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Hợp tác quốc phòng, pháp luật và tư pháp, tình báo và an ninh

17. Hai bên khẳng định quan hệ chiến lược và các lợi ích chung ở khu vực của hai bên ngày càng gia tăng, đồng thời tái khẳng định cam kết hợp tác chặt chẽ hơn nữa về quốc phòng, pháp luật và tư pháp, tình báo và an ninh nhằm đóng góp vào hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực.

18. Hai bên tái khẳng định cam kết tổ chức Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng thường niên nhằm thúc đẩy đối thoại ở cấp cao về các vấn đề quốc phòng trên cơ sở Bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng đã ký năm 2010. Đây là cơ hội tìm kiếm thêm các hình thức hợp tác quốc phòng, kể cả trong lĩnh vực đào tạo và huấn luyện, an ninh hàng hải và hàng không, đào tạo và hỗ trợ các hoạt động gìn giữ hòa bình, chống khủng bố, giải quyết hậu quả chiến tranh và các lĩnh vực khác.

19. Hai bên hoan nghênh hợp tác giữa cảnh sát, các cơ quan chức năng về quản lý biển và biên giới của hai nước, nhất trí cùng đẩy mạnh hợp tác về an ninh và thực thi pháp luật, kể cả thông qua Đối thoại an ninh thường niên cấp thứ trưởng, tăng cường trao đổi thông tin tình báo và hỗ trợ nâng cao năng lực.

20. Hai bên cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác song phương và tham gia các nỗ lực khu vực nhằm giải quyết các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, đặc biệt là tội phạm xuyên quốc gia, bao gồm buôn bán người và đưa người di cư trái phép, buôn lậu ma túy, rửa tiền, khủng bố, tội phạm mạng, cũng như thu hồi tài sản thất thoát từ các tội phạm này.

21. Hai bên sẽ tăng cường hợp tác song phương và khu vực giữa các cơ quan hoạch định chính sách, quản lý và thực thi pháp luật biển thông qua đối thoại, phối hợp, hợp tác thiết thực và các hoạt động nâng cao năng lực.

Hợp tác giáo dục, khoa học và công nghệ, lao động, xã hội, văn hóa và giao lưu nhân dân

22. Hai bên nhấn mạnh cần tăng cường giao lưu nhân dân, đặc biệt thông qua trao đổi thanh niên và sinh viên. Hai bên ủng hộ mạnh mẽ sinh viên Australia sang Việt Nam và sinh viên Việt Nam sang Australia học tập, thông qua Kế hoạch Colombo mới và các chương trình học bổng của Australia và Việt Nam.

23. Hai bên tái khẳng định ý nghĩa của hợp tác giáo dục, đào tạo và nghiên cứu cũng như vai trò của mạng lưới rộng lớn các cựu sinh viên Việt Nam từng theo học tại Australia. Hai bên nhất trí ủng hộ mở rộng đối thoại về chính sách giáo dục nhằm tăng cường liên kết giữa các cơ sở và cung cấp dịch vụ giáo dục xuyên quốc gia, trong đó có việc áp dụng công nghệ truyền thông tiên tiến, tạo thuận lợi về đi lại cho học sinh, học giả, nhà nghiên cứu và chuyên gia.

24. Hai bên sẽ thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực dạy nghề và các vấn đề xã hội, trong đó có thúc đẩy bình đẳng giới và ghi nhận những cơ hội về di chuyển lao động thông qua chương trình nhập cư dành cho lao động có tay nghề của Australia.

25. Hai bên sẽ tiếp tục thúc đẩy mở rộng hợp tác cùng có lợi trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và sáng tạo; tăng cường kết nối giữa các viện nghiên cứu; khuyến khích chuyển giao công nghệ, trao đổi chuyên gia và chia sẻ thông tin về khoa học, công nghệ và sáng tạo.

26. Hai bên đánh giá cao vai trò của các tổ chức nhân dân và xã hội hai nước trong việc thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp, tình hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân Việt Nam và Australia.

27. Hai bên đánh giá cao thành công của cộng đồng người Việt Nam tại Australia cũng như những đóng góp của họ cho quan hệ song phương. Hai bên đề cao vai trò của thanh niên trong việc xây dựng mạng lưới các nhà lãnh đạo tương lai và doanh nhân hai nước, đem lại nhiều lợi ích chung.

28. Hai bên cam kết triển khai hiệu quả Chương trình lao động kỳ nghỉ giữa Việt Nam và Australia.

29. Hai bên hoan nghênh sự gia tăng nhanh chóng số lượng du khách hai chiều cũng như sự phát triển có tính gắn kết giữa hàng không và du lịch, và sẽ tiếp tục tìm kiếm cơ hội đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực này.

30. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác văn hóa trong việc tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước và cam kết gia tăng hợp tác Việt Nam-Australia trong lĩnh vực này.

Hợp tác khu vực và quốc tế

31. Hai bên sẽ phối hợp chặt chẽ nhằm duy trì một trật tự khu vực mở, bao trùm và dựa trên luật lệ, coi đây là nền tảng của hòa bình, an ninh, ổn định và thịnh vượng ở khu vực. Hai bên chia sẻ mục tiêu củng cố và phát triển các thể chế khu vực và quốc tế nhằm thúc đẩy các lợi ích chung về chính trị, kinh tế và an ninh.

32. Hai bên ủng hộ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), tổ chức đã mang lại sự hài hòa và gắn kết cho khu vực. Hai bên sẽ tiếp tục thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN-Australia và đánh giá cao Hội nghị Cấp cao đặc biệt ASEAN-Australia mang tính lịch sử, với nhiều sáng kiến thực chất về tăng cường hợp tác.

33. Hai bên nhấn mạnh vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu ​​trúc khu vực đang định hình và cam kết tăng cường hợp tác để củng cố các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, như Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), trong đó ASEAN đóng vai trò đầu tàu thúc đẩy. Trên cơ sở đó, hai bên khẳng định tầm quan trọng của EAS là diễn đàn khu vực hàng đầu do các nhà lãnh đạo dẫn dắt nhằm thúc đẩy đối thoại và hợp tác về các vấn đề chiến lược, chính trị và kinh tế cùng quan tâm và có chung lợi ích.

34. Hai bên cam kết sẽ tiếp tục hợp tác giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu đang nổi lên, bao gồm khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mạng, buôn bán người và đưa người di cư trái phép, bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu, đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), an ninh năng lượng, an toàn và an ninh hàng hải, an ninh lương thực và nguồn nước, bệnh truyền nhiễm, cơ sở hạ tầng chất lượng, thu hẹp khoảng cách phát triển, kinh tế số cũng như ủng hộ tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy tự do hoá thương mại và đầu tư, và tăng cường kết nối vùng, tiểu vùng và phát triển bền vững tại khu vực.

35. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác về phát triển bền vững, bảo vệ và quản lý môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và khả năng chống chịu thiên tai trong quá trình thực hiện Chương trình Nghị sự phát triển bền vững 2030, Chương trình Khung Sendai về giảm nhẹ rủi ro thiên tai và Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu.

36. Hai bên tái khẳng định cam kết thúc đẩy an ninh và an toàn, tự do hàng hải và hàng không, thượng tôn pháp luật, bao gồm tuân thủ và thực thi nghiêm túc các nghĩa vụ pháp lý quốc tế; giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) và thông qua các cơ chế thích hợp do ASEAN dẫn dắt. Theo đó, hai bên tiếp tục quan ngại về tình hình Biển Đông và khẳng định tiếp tục phối hợp tích cực nhằm thúc đẩy hòa bình và ổn định tại khu vực. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử (COC) hiệu quả và ràng buộc giữa ASEAN và Trung Quốc, phù hợp với luật pháp quốc tế.

37. Trên cơ sở các kết quả quan trọng của Hội nghị các nhà lãnh đạo Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 25 tổ chức tại Đà Nẵng, Việt Nam, hai bên cam kết tăng cường hợp tác thúc đẩy liên kết kinh tế khu vực, thương mại và đầu tư tự do và cởi mở thông qua Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương tiến bộ và toàn diện, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực cũng như APEC, đồng thời ủng hộ hệ thống thương mại đa phương dựa trên luật pháp.

Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ.

Categories
Khác Tin tức quốc tế Tin tức trong nước

Tuyên bố chung Việt Nam – Singapore

Nhân chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Phu nhân tới Cộng hòa Singapore theo lời mời của Thủ tướng Lý Hiển Long, hai bên đã ra Tuyên bố chung. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung.

TUYÊN BỐ CHUNG

GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

VÀ CỘNG HÒA SINGAPORE

VỀ CHUYẾN THĂM CHÍNH THỨC SINGAPORE

CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VIỆT NAM NGUYỄN XUÂN PHÚC

(25 – 27 THÁNG 4 NĂM 2018)

————

1. Nhận lời mời của Thủ tướng nước Cộng hòa Singapore Lý Hiển Long, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc và Phu nhân Trần Nguyệt Thu đã thăm chính thức Singapore từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 4 năm 2018. Chuyến thăm có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hai nước đang kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 5 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Singapore trong năm 2018. Trong chuyến thăm, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã dự lễ đón, hội đàm và chiêu đãi chính thức của Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long; chào xã giao Tổng thống Singapore Halimah Yacob.

2. Hai Thủ tướng chứng kiến lễ ký các Bản ghi nhớ (MoU): (i) MoU về hợp tác kỹ thuật về môi trường và quản lý nguồn nước giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam và Bộ Môi trường và Nguồn nước của Singapore; (ii) MoU về khí hóa lỏng giữa Vụ Dầu khí, Bộ Công Thương Việt Nam và Cơ quan doanh nghiệp quốc tế Singapore, Bộ Thương mại quốc tế và Công nghiệp Singapore; (iii) MoU về hợp tác năng lượng tái tạo giữa Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, Bộ Công Thương Việt Nam và Cơ quan doanh nghiệp quốc tế Singapore, Bộ Thương mại quốc tế và Công nghiệp Singapore; (iv) MoU về hợp tác trong lĩnh vực tiêu chuẩn hóa và đánh giá sự phù hợp giữa Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng, Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Cơ quan doanh nghiệp quốc tế Singapore, Bộ Thương mại quốc tế và Công nghiệp Singapore; (v) MoU về hợp tác và chia sẻ thông tin trong lĩnh vực thanh tra, giám sát ngân hàng giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Cơ quan quản lý tiền tệ Singapore và (vi) MoU về hợp tác đổi mới tài chính giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Cơ quan quản lý tiền tệ Singapore.

3. Hai Thủ tướng trao đổi sâu rộng về các vấn đề song phương, khu vực và quốc tế cùng quan tâm. Hai bên hoan nghênh những tiến triển thực chất trong quan hệ song phương kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973 và Đối tác chiến lược năm 2013. Đặc biệt, hai Thủ tướng đánh giá cao quan hệ tin cậy và hợp tác song phương thực chất trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, nâng cao năng lực, quốc phòng, an ninh, văn hóa và giao lưu nhân dân.

4. Hai bên tin tưởng quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước sẽ bước vào giai đoạn phát triển mới trong bối cảnh kinh tế mỗi nước và khu vực đang phát triển mạnh mẽ, Cộng đồng ASEAN, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã ký kết và nhiều thỏa thuận hợp tác khu vực khác đang hình thành.

5. Hai Thủ tướng tái khẳng định cam kết duy trì trao đổi đoàn cấp cao và các cấp trên tất cả các kênh Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và giao lưu nhân dân. Hai bên nhất trí tăng cường tham vấn, đối thoại nhằm trao đổi quan điểm, lập trường và sáng kiến về các vấn đề chiến lược.

6. Hai Thủ tướng hoan nghênh các hoạt động kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 5 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược; nhất trí tổ chức các hoạt động trong năm 2018 để thúc đẩy hợp tác chính trị, thương mại/kinh tế và giao lưu nhân dân nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau.

7. Hai Thủ tướng chia sẻ hợp tác đầu tư và thương mại là trụ cột quan trọng trong quan hệ song phương; đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi thông qua việc thực thi pháp luật và chính sách nhất quán của Chính phủ, tăng cường kết nối các doanh nghiệp và tạo điều kiện thúc đẩy giải quyết nhanh chóng các vướng mắc cho doanh nghiệp. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hoan nghênh Singapore là nhà đầu tư lớn thứ ba của Việt Nam và khuyến khích Singapore tăng cường đầu tư vào các lĩnh vực như cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, và các lĩnh vực khác như năng lượng (bao gồm khí hóa lỏng và năng lượng tái tạo), du lịch (bao gồm phát triển du lịch tàu biển, quản lý và quảng bá sản phẩm), cơ sở hạ tầng (bao gồm đường cao tốc và cảng biển), giải pháp đô thị, khoa học công nghệ, khu công nghệ cao, thành phố thông minh (trong các lĩnh vực về an ninh, an toàn công cộng, giao thông thông minh và cơ sở hạ tầng số) và nền kinh tế số (bao gồm liên kết giữa các doanh nghiệp khởi nghiệp Singapore và Việt Nam). Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc sẽ chứng kiến việc ký kết nhiều văn kiện hợp tác tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam ngày 26 tháng 4 năm 2018.

8. Hai bên đánh giá cao hợp tác thương mại giữa hai nước trong lĩnh vực nông sản, bao gồm rau, quả tươi, lâm thủy sản; đồng thời nhất trí ưu tiên đẩy mạnh thương mại, đầu tư và kết nối doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp. Hai Thủ tướng khuyến khích doanh nghiệp hai nước đưa ra các sáng kiến chung nhằm tăng cường hợp tác, khai thác thế mạnh của Singapore về công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm kinh doanh nông sản.

9. Hai bên ghi nhận bước phát triển tích cực trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng; thể hiện qua việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Cơ quan quản lý tiền tệ Singapore ký các Bản ghi nhớ về đổi mới tài chính và giám sát ngân hàng cũng như việc ngày càng nhiều ngân hàng Singapore hoạt động tại Việt Nam và doanh nghiệp Việt Nam niêm yết tại thị trường chứng khoán Singapore nhằm tiếp cận thị trường vốn của Singapore và nâng cao uy tín cho doanh nghiệp. Singapore tiếp tục hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực thông qua chia sẻ kinh nghiệm quản lý, giám sát tài chính và giám sát ổn định tài chính.

10. Hai Thủ tướng cam kết Cơ quan sở hữu trí tuệ Singapore tăng cường hợp tác với Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam khai thác thế mạnh về sáng tạo và sở hữu trí tuệ nhằm phục vụ phát triển kinh tế. Hai bên mở rộng hợp tác thương mại hóa sở hữu trí tuệ, chia sẻ ứng dụng các bằng sáng chế và đào tạo về sở hữu trí tuệ trên cơ sở Kế hoạch hành động 2018 nhằm triển khai Bản Ghi nhớ về hợp tác giữa cơ quan sở hữu trí tuệ hai nước.

11. Hai Thủ tướng nhất trí tích cực thúc đẩy liên kết doanh nghiệp và giao lưu nhân dân; cũng như khai thác tốt tiềm năng kết nối hàng không, tăng lượng khách và vận chuyển hàng hóa giữa hai nước và với nước khác; tiến tới tự do hóa Hiệp định hàng không. Hai bên nhất trí đẩy mạnh kết nối hơn nữa thông qua vận tải biển và logistics. Singapore cam kết đào tạo nhân viên hàng không dân dụng và hàng hải Việt Nam. Hai Thủ tướng hoan nghênh hai bên nghiên cứu mở đường bay thẳng giữa Singapore và Nha Trang.

12. Hai Thủ tướng ghi nhận những bước tiến đáng kể trong hợp tác quốc phòng và cam kết đẩy mạnh hợp tác thông qua các chuyến thăm cấp cao, cơ chế đối thoại chính sách quốc phòng, tiếp xúc song phương giữa quân đội hai nước, trao đổi sĩ quan trẻ và tàu hải quân thăm cảng.

13. Hai bên cam kết hợp tác chặt chẽ nhằm thúc đẩy cấu trúc an ninh khu vực thông qua đối thoại chiến lược tại Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+.) Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác thực tế thông qua các hoạt động của Nhóm chuyên gia ADMM+ như tổ chức hội thảo và diễn tập.

14. Hai Thủ tướng nhấn mạnh ý nghĩa của việc tăng cường hợp tác an ninh và tình báo chống khủng bố, chủ nghĩa cực đoan và tội phạm xuyên quốc gia, cũng như hợp tác chặt chẽ về các vấn đề liên quan đến an ninh mạng… Singapore sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực về quản lý di cư, cơ sở dữ liệu tội phạm và bảo mật.

15. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cảm ơn Singapore tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong phát triển nguồn nhân lực thông qua tổ chức các khóa đào tạo theo Thỏa thuận về Chương trình đào tạo chuyên đề cho cán bộ cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 2017-2019. Singapore tiếp tục khuyến khích các trung tâm giáo dục và nhà cung cấp dịch vụ tại Singapore tích cực tham gia các dự án phát triển giáo dục ở Việt Nam. Hai bên cam kết tích cực tăng cường hợp tác và liên kết giữa các trường dạy nghề và giao lưu giữa thanh, thiếu niên hai nước.

16. Hai Thủ tướng ghi nhận tầm quan trọng của việc bảo tồn và bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm cuộc sống của người dân. Hai bên nhất trí tiếp tục hợp tác giải quyết các thách thức khu vực và quốc tế, trong đó có các vấn đề xuyên quốc gia như ô nhiễm không khí và khói bụi, quản lý chất lượng nguồn nước, ô nhiễm biển và các vùng biển, biến đổi khí hậu. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận tiềm năng hợp tác to lớn giữa hai nước trong giải quyết các vấn đề môi trường như xử lý chất thải rắn và chất thải nguy hại, quản lý chất lượng không khí, nguồn nước và tiếng ồn. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định Việt Nam ủng hộ Singapore tổ chức Hội nghị Bộ trưởng ASEAN đặc biệt về khí hậu vào tháng 7/2018.

17. Hai Thủ tướng hài lòng về sự phối hợp chặt chẽ giữa hai nước tại các diễn đàn khu vực và quốc tế như ASEAN và các diễn đàn liên quan, APEC, ASEM và Liên hợp quốc. Thủ tướng Lý Hiển Long cảm ơn Việt Nam ủng hộ mạnh mẽ Singapore đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN 2018 nhằm xây dựng một ASEAN Tự cường và Sáng tạo.

18. Hai nước nhất trí duy trì tham vấn thường xuyên về các vấn đề khu vực và phối hợp chặt chẽ nhằm củng cố thống nhất, đoàn kết và vai trò trung tâm của ASEAN cũng như đảm bảo thực hiện hiệu quả Tầm nhìn ASEAN 2025.

19. Hai Thủ tướng khẳng định tầm quan trọng của duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giải quyết hòa bình các tranh chấp, tôn trọng đầy đủ các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó bao gồm Công ước về Luật Biển Liên Hợp Quốc 1982 (UNCLOS). Hai bên tái khẳng định ủng hộ thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu quả và ràng buộc.

20. Trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2018, Singapore khẳng định tiếp tục ủng hộ các nước Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam (CLMV) thu hẹp khoảng cách phát triển thông qua Chương trình hợp tác Singapore và Sáng kiến về Hội nhập ASEAN.

21. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cảm ơn sự đón tiếp nồng hậu mà phía Singapore đã dành cho cá nhân và đoàn và bày tỏ mong muốn đón Thủ tướng Lý Hiển Long và các lãnh đạo Singapore thăm Việt Nam vào thời gian thuận tiện./.

Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ.