Categories
Hệ thống VBPL Kiến thức pháp luật

Tổng hợp 26 Án lệ của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Sau đây là 26 bản án lệ đã được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao công bố:

1. Án lệ 01/2016/AL về vụ án giết người;

2. Án lệ 02/2016/AL về vụ án tranh chấp đòi lại tài sản;

3. Án lệ 03/2016/AL về vụ án ly hôn;

4. Án lệ 04/2016/AL về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất;

5. Án lệ 05/2016/AL về vụ án tranh chấp di sản thừa kế;

6. Án lệ 06/2016/AL về vụ án tranh chấp thừa kế;

7. Án lệ 07/2016/AL về vụ án dân sự tranh chấp quyền sở hữu, sử dụng nhà;

8. Án lệ 08/2016/AL về vụ án kinh doanh, thương mại tranh chấp về hợp đồng tín dụng;

9. Án lệ 09/2016/AL về vụ án kinh doanh, thương mại tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa;

10. Án lệ 10/2016/AL về vụ án hành chính khiếu kiện quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;

11. Án lệ 11/2017/AL về vụ án kinh doanh, thương mại tranh chấp về hợp đồng tín dụng;

12. Án lệ 12/2017/AL về vụ án kinh doanh, thương mại tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa;

13. Án lệ 13/2017/AL về hiệu lực thanh toán của thư tín dụng (L/C) trong trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là cơ sở của L/C bị hủy bỏ;

14. Án lệ 14/2017/AL về vụ án yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất;

15. Án lệ 15/2017/AL về vụ án tranh chấp hợp đồng đổi đất;

16. Án lệ 16/2017/AL về vụ án dân sự tranh chấp thừa kế tài sản;

17. Án lệ 17/2018/AL về tình tiết “có tính chất côn đồ” trong tội “giết người” có đồng phạm;

18. Án lệ 18/2018/AL về hành vi giết người đang thi hành công vụ trong tội “giết người”;

19. Án lệ 19/2018/AL về xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt trong tội “tham ô tài sản”;

20. Án lệ 20/2018/AL về xác lập quan hệ hợp đồng lao động sau khi hết thời gian thử việc;

21. Án lệ 21/2018/AL về lỗi và thiệt hại trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng cho thuê tài sản;

22. Án lệ 22/2018/AL về không vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin tình trạng bệnh lý trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ;

23. Án lệ 23/2018/AL về hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khi bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm do lỗi của doanh nghiệp bảo hiểm;

24. Án lệ 24/2018/AL về di sản thừa kế chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân;

25. Án lệ 25/2018/AL về không phải chịu phạt cọc vì lí do khách quan;

26. Án lệ 26/2018/AL về xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu và thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bất động sản.

Categories
Khác

Hàng loạt quy định mới về tuyển dụng công chức, viên chức

Từ năm 2019, việc thi tuyển, thi nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức sẽ có đổi mới cả về nội dung, hình thức và quy trình nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường tính công khai, minh bạch, nâng cao chất lượng công tác cán bộ.

Từ năm 2019, thi tuyển công chức sẽ gồm 2 vòng, vòng thi trắc nghiệm và vòng phỏng vấn, thực hành

Đây là những điểm mới đáng chú ý tại Nghị định 161/2018/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập (có hiệu lực từ ngày 15/1/2019).

Nghị định này đã kịp thời thể chế hóa một số giải pháp được đề ra tại Hội nghị Trung ương 6 khóa XII; đồng thời đã nghiên cứu đổi mới công tác thi tuyển, thi nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức theo hướng tổ chức thi thực chất, công khai, minh bạch, giám sát chặt chẽ, đẩy mạnh phân cấp cho các bộ, ngành, địa phương, làm rõ trách nhiệm của Bộ Nội vụ trong kiểm tra, giám sát, hậu kiểm và trách nhiệm của các cơ quan trong quá trình tổ chức thi nâng ngạch, bảo đảm mặt bằng chung về trình độ, năng lực của công chức giữa các bộ, ngành, địa phương; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tổ chức thi tuyển, thi nâng ngạch, thi thăng hạng…

Tổ chức thi tuyển 2 vòng

Đối với công tác tuyển dụng công chức, viên chức, Nghị định bổ sung quy định các cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng không được đưa ra các điều kiện, tiêu chuẩn trái với quy định của pháp luật, không được phân biệt loại hình đào tạo, văn bằng, chứng chỉ, trường công lập, trường ngoài công lập.

Quy định này để bảo đảm phù hợp với Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức và Luật Giáo dục đại học về việc không quy định phân biệt loại hình đào tạo, văn bằng chứng chỉ, cơ sở đào tạo.

Đáng chú ý, Nghị định sửa đổi, bổ sung nội dung, hình thức, quy trình thi tuyển và xét tuyển nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường tính công khai, minh bạch, nâng cao chất lượng trong công tác tuyển dụng, gắn thẩm quyền tuyển dụng với thẩm quyền sử dụng công chức, viên chức và theo yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng.

Theo đó, việc tuyển dụng công chức, viên chức được tổ chức theo 2 vòng, vòng 1 thi trắc nghiệm về kiến thức chung, ngoại ngữ, tin học để bảo đảm chính xác trong việc chấm thi và thuận tiện trong việc ứng dụng thi trên máy; vòng 2 thi môn nghiệp vụ chuyên ngành bằng hình thức phỏng vấn, thực hành hoặc thi viết do người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng quyết định.

Đồng thời, quy định cụ thể thời hạn để tiến hành các bước trong tổ chức tuyển dụng theo hướng rút gọn thời gian, đơn giản thủ tục hành chính.

Việc thi nâng ngạch công chức cũng tổ chức theo hướng đơn giản hóa thủ tục, thực hiện theo 2 vòng tương tự như thi tuyển công chức.

Phân cấp thẩm quyền tổ chức thi nâng ngạch công chức từ chuyên viên chính và tương đương trở xuống cho các bộ, ngành, địa phương. Các Bộ, ngành, địa phương quyết định danh sách công chức, viên chức đủ tiêu chuẩn, điều kiện dự thi nâng ngạch và chịu trách nhiệm toàn bộ trong quá trình tổ chức các kỳ thi nâng ngạch công chức theo thẩm quyền; Bộ Nội vụ và Ban Tổ chức Trung ương chỉ chủ trì tổ chức thi nâng ngạch lên chuyên viên cao cấp.

Đơn giản quy trình tuyển dụng đặc cách

Chế độ ưu tiên trong tuyển dụng được quy định theo hướng cộng điểm ưu tiên và áp dụng thống nhất giữa tuyển dụng công chức và tuyển dụng viên chức.

Trường hợp tuyển dụng đặc cách sẽ theo hướng quy định cụ thể về đối tượng, tiêu chuẩn, điều kiện và phân cấp thẩm quyền cho các Bộ, ngành, địa phương thực hiện (không phải lấy ý kiến thống nhất của Bộ Nội vụ hoặc Ban Tổ chức Trung ương như trước đây).

Quy định cụ thể về việc không phải thực hiện quy trình tuyển dụng đối với trường hợp đã là cán bộ, công chức sau đó được điều động, luân chuyển sang các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác, nay cơ quan có thẩm quyền có nhu cầu điều động, tiếp nhận trở lại.

Trong trường hợp trúng tuyển, thời gian tập sự sẽ phù hợp với trình độ đào tạo của viên chức để bảo đảm sự thống nhất giữa các lĩnh vực sự nghiệp.

Thời gian tập sự là 12 tháng đối với trường hợp tuyển dụng vào chức danh nghề nghiệp có yêu cầu tiêu chuẩn trình độ đào tạo đại học (riêng đối với chức danh nghề nghiệp bác sĩ là 9 tháng), 9 tháng đối với trình độ đào tạo cao đẳng và 6 tháng đối với trình độ đào tạo trung cấp.

Gỡ vướng quy định thôi việc đối với viên chức

Nhằm giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện chế độ thôi việc đối với viên chức trong thời gian qua, Nghị định số 161/2018/NĐ-CP đã bổ sung quy định không thực hiện chế độ thôi việc đối với trường hợp viên chức trong 2 trường hợp sau:

– Viên chức được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền đồng ý chuyển đến làm việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khác trong hệ thống chính trị.

– Viên chức đã có thông báo nghỉ hưu hoặc thuộc đối tượng tinh giản biên chế theo quy định của pháp luật.

Nghị định số 161/2018/NĐ-CP cũng phân cấp nội dung quản lý về vị trí việc làm đối với công chức, viên chức cho phù hợp quy định của Luật Tổ chức Chính phủ 2015, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 và Nghị quyết 21/NQ-CP theo hướng giao các bộ, ngành, địa phương quyết định danh mục và số lượng vị trí việc làm đối với công chức, viên chức.

Thực hiện phân cấp cho người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương (cấp tỉnh) ban hành các quyết định cá biệt về bổ nhiệm ngạch và xếp lương đối với công chức, viên chức ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương sau khi có ý kiến thẩm định về tiêu chuẩn, điều kiện của Bộ Nội vụ (đối với các cơ quan Nhà nước) hoặc Ban Tổ chức Trung ương (đối với các cơ quan của Đảng và các tổ chức chính trị – xã hội).

Nghị định bổ sung quy định người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập xem xét, quyết định việc ký tiếp hợp đồng làm việc xác định thời hạn đối với viên chức sau khi thực hiện xong hợp đồng làm việc lần đầu để thực hiện chủ trương Nghị quyết số 19-NQ/TW về việc ký hợp đồng xác định thời hạn đối với viên chức mới được tuyển dụng (trừ trường hợp được tuyển dụng vào làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn).

Ngoài ra, Nghị định sửa đổi, bổ sung quy định của Nghị định 68/2000/NĐ-CP cho phù hợp tinh thần Nghị quyết 27-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp: Thực hiện thống nhất chế độ hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động (hoặc hợp đồng cung cấp dịch vụ) đối với những người làm công việc thừa hành, phục vụ (yêu cầu trình độ đào tạo dưới trung cấp).

Theo đó, Nghị định quy định không áp dụng chế độ công chức đối với lái xe Bộ trưởng hoặc tương đương, không được ký hợp đồng lao động để làm các công việc chuyên môn, nghiệp vụ trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập.

(Kiểm Sát Online)

Categories
Kiến thức pháp luật Tư vấn pháp luật

5 điều phụ nữ nên biết trước khi ly hôn

Ly hôn chỉ là lựa chọn cuối cùng trong cuộc sống hôn nhân, là kết quả mà không ai mong muốn đặc biệt là phụ nữ. Tuy nhiên, một khi đã quyết định ly hôn thì có 05 điều sau đây người phụ nữ nào cũng nên biết.

1/ Người vợ đang mang thai có quyền yêu cầu ly hôn

Theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, trong quan hệ hôn nhân, vợ, chồng hoặc cả hai người đều có quyền yêu cầu Tòa án được ly hôn.

Đáng lưu ý là người chồng không được ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi cho dù đứa bé không phải con của người chồng.

Ngược lại, nếu vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người vợ có quyền được yêu cầu Tòa án cho ly hôn.

2/ Đã ly hôn thì phải đăng ký kết hôn lại

Quan hệ hôn nhân bị chấm dứt tại thời điểm bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Nếu hai người đã ly hôn, muốn được pháp luật công nhận lại quan hệ hôn nhân thì phải đăng ký kết hôn lại. (Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình 2014).

3/ Người vợ có thể không được nuôi con

Theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, người vợ có thể không được nuôi con trong các trường hợp sau:

– Con từ đủ 07 tuổi không muốn ở với mẹ

– Người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con

Ngoài ra, người nào không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

điều cần biết trước khi ly hôn

Phụ nữ cần biết trước khi ly hôn (Ảnh minh họa)

4/ Nguyên tắc khi chia tài sản sau ly hôn

Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định, tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn có thể được chia đôi nếu căn cứ vào các điều kiện sau:

– Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

– Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung.

– Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

– Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Như vậy, với người vợ chỉ làm nội trợ trong gia đình thì vẫn được tính là lao động tạo ra thu nhập, tương đương với thu nhập của chồng đi làm.

Ngoài ra, nếu trong thời gian hôn nhân, chứng minh được chồng ngoại tình, bạo lực gia đình… dẫn đến ly hôn thì cũng sẽ là căn cứ để chia tài sản khi ly hôn.

5/ Khi ly hôn, vợ có thể phải cấp dưỡng cho chồng

Điều 115 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn. Theo đó, nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng.

Categories
Tin tức trong nước

Từ 3/3, đất chuyển nhượng bằng giấy viết tay được cấp sổ đỏ

Nghị định 01 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai được đánh giá đã giải quyết hàng loạt vướng mắc cho người dân, một trong số đó là sẽ cấp sổ đỏ cho đất chuyển nhượng bằng giấy tay.

Thủ tục nhà đất sẽ nhanh hơn

Ngày 20/2, UBND TP.HCM đã tổ chức Hội nghị triển khai hướng dẫn Nghị định 01/2017/NĐ-CP  (Nghị định 01) về sửa đổi, bổ sung một số quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai. Nghị định 01 này được đánh giá đã “gỡ nút thắt” nhiều vướng mắc cho người dân về pháp luật đất đai được các bộ ngành rà soát trong 2 năm qua.

Vấn đề thủ tục hành chính, nhất là trong lĩnh vực đất đai, từ lâu đã là “nỗi khổ” của nhiều người. Việc rút ngắn từ 1/3 đến ½ thời gian thực hiện đối với nhiều thủ tục đăng ký biến động đất đai so với trước đây là một nội dung được đánh giá cao trong Nghị định 01.

Với việc nới phạm vi xét cấp sổ đỏ cho trường hợp chuyển nhượng đất bằng giấy tay, hàng ngàn người sẽ được hợp thức hoá đất đai của mình. (Ảnh minh hoạ)

Đơn cử như: Cho phép chuyển  mục đích sử dụng đất không quá 15 ngày; đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất không quá 30 ngày; Chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, đăng ký góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là không quá 10 ngày; Cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng bị mất là không quá 10 ngày…

Một điểm bổ sung khác tại Nghị định 01 là trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một phần diện tích đất tăng thêm không nằm trong giấy tờ được xem xét hợp thức hoá. Cụ thể, khi đo đạc mà diện tích thửa đất thực tế nhiều hơn trong GCN đã cấp và ranh giới thửa đất thực tế có thay đổi so với lúc cấp GCN thì được xem xét cấp sổ đỏ đối với phần diện tích đất tăng thêm. Điều này hướng đến giải quyết vướng mắc cho các hộ gia đình ở nông thôn, khi diện tích đất thực tế và trên giấy tờ không trùng khớp.

Hợp thức hoá đất chuyển nhượng bằng giấy tay

Tại hội nghị triển khai hướng dẫn Nghị định 01, ông Lê Văn Khoa – Phó Chủ tịch UBND TP.HCM đã chia sẻ, trong quá trình thực hiện Luật Đất đai 2013 thành phố gặp nhiều vướng mắc, một trong số đó là việc cấp sổ đỏ. Các đơn vị chuyên môn của thành phố đã có kiến nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) và đến nay nhiều vấn đề đã được sửa đổi, bổ sung trong Nghị định 01 này.

Trong đó, vấn đề hợp thức hoá đất đai cho những trường hợp mua bán bằng giấy tờ sang tay đã được đưa vào nghị định. Theo đó, phạm vi thời hạn cấp sổ đỏ cho những trường hợp này đã được mở rộng đến trước ngày 1/1/2008, thay vì trước mốc ngày 1/7/2004 như trước đây.

Theo thống kê của Sở TN&MT TP.HCM đến tháng 9/2016, tính chung toàn thành phố còn khoảng 110.000 trường hợp chưa cấp sổ đỏ cũng như quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất vì không đủ điều kiện. Trong đó, có 37.466 (chiếm 42,3%) trường hợp do chuyển nhượng bằng giấy tay.

Như vậy, với quy định nới phạm vi xét cấp sổ đỏ với những trường hợp chuyển nhượng đất bằng giấy tay, từ ngày 3/3/2017 (thời điểm Nghị định 01 có hiệu lực thi hành) hàng ngàn người dân tại TP.HCM cũng như cả nước sẽ được hợp thức hoá phần đất của mình.

(Nguồn: Infonet)

Categories
Kiến thức pháp luật Tư vấn pháp luật

Hướng dẫn trình tự, thủ tục đăng ký thành lập hộ kinh doanh cá thể

Trình tự, thủ tục đăng ký thành lập hộ kinh doanh cá thể theo quy định của pháp luật Việt Nam

Trình tự, thủ tục đăng ký thành lập hộ kinh doanh cá thể:

1. Cá nhân, nhóm cá nhân hoặc người đại diện hộ gia đình gửi Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh đến cơ quan Đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đặt địa điểm kinh doanh. Nội dung Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh gồm:

a) Tên hộ kinh doanh, địa chỉ địa điểm kinh doanh;

b) Ngành, nghề kinh doanh;

c) Số vốn kinh doanh;

d) Họ, tên, số và ngày cấp Giấy chứng minh nhân dân, địa chỉ nơi cư trú và chữ ký của các cá nhân thành lập hộ kinh doanh đối với hộ kinh doanh do nhóm cá nhân thành lập, của cá nhân đối với hộ kinh doanh do cá nhân thành lập hoặc đại diện hộ gia đình đối với trường hợp hộ kinh doanh do hộ gia đình thành lập.

Kèm theo Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh phải có bản sao Giấy chứng minh nhân dân của các cá nhân tham gia hộ kinh doanh hoặc người đại diện hộ gia đình và Biên bản họp nhóm cá nhân về việc thành lập hộ kinh doanh đối với trường hợp hộ kinh doanh do một nhóm cá nhân thành lập.

Đối với những ngành, nghề phải có chứng chỉ hành nghề, thì kèm theo các giấy tờ quy định phải có bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của cá nhân hoặc đại diện hộ gia đình.

Đối với những ngành, nghề có vốn pháp định phải có bản sao hợp lệ văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

2. Khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện trao Giấy biên nhận và cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cho hộ kinh doanh trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, nếu có đủ các điều kiện sau đây:

a) Ngành, nghề kinh doanh không thuộc danh mục ngành, nghề cấm kinh doanh;

b) Tên hộ kinh doanh dự định đăng ký phù hợp quy định;

c) Nộp đủ lệ phí đăng ký theo quy định.

Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký kinh doanh phải thông báo rõ nội dung cần sửa đổi, bổ sung bằng văn bản cho người thành lập hộ kinh doanh.

3. Nếu sau năm ngày làm việc, kể từ ngày nộp hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh mà không nhận được Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh hoặc không nhận được thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh thì người đăng ký hộ kinh doanh có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

4. Định kỳ vào tuần thứ nhất hàng tháng, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện gửi danh sách hộ kinh doanh đã đăng ký tháng trước cho cơ quan thuế cùng cấp, Phòng Đăng ký kinh doanh và cơ quan quản lý ngành kinh tế – kỹ thuật cấp tỉnh.

Đăng ký thuế hộ kinh doanh:

Tùy từng địa phương cán bộ thuế sẽ tới tận nơi để thực hiện để thực hiện đăng ký thuế. Chuẩn bị 2 bản sao hộ kinh doanh + CMND của chủ hộ kinh doanh.

Ngày 6/12/2012, Tổng cục Thuế ban hành công văn số 4367/TCT-CS về việc thu thuế môn bài năm 2013. Theo đó, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh tiếp tục thực hiện bậc thuế môn bài đã xác định khi lập bộ thuế môn bài năm 2012 để thu thuế môn bài năm 2013.

Như vậy, năm 2013 đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế môn bài theo 6 mức như sau:

+ Thu nhập trên 1,5 triệu đồng/tháng: nộp thuế môn bài cả năm là 1 triệu đồng;

+ Thu nhập từ 1 – 1,5 triệu đồng/tháng: nộp thuế môn bài cả năm là 750.000 đồng;

+ Thu nhập từ trên 750.000đ – 1 triệu đồng/tháng: nộp thuế môn bài cản năm là 500.000 đồng;

+ Thu nhập từ trên 500.000 đồng – 750.000 đồng/tháng: nộp thuế môn bài cả năm là 300.000 đồng;

+ Thu nhập trên 300.000 – 500.000 đồng/tháng: nộp thuế môn bài cả năm là 100.000 đồng;

+ Thu nhập từ 300.000 đồng/tháng trở xuống, nộp thuế môn bài cả năm là 50.000 đồng.

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng.

(Theo Trí Thức Trẻ)

Categories
Kiến thức pháp luật Nghiên cứu và bình luận

Giải pháp hạn chế mức độ ẩn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tội phạm ẩn không chỉ là vấn đề thống kê tội phạm, mà còn có ảnh hưởng trực tiếp tới công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản không chỉ gây thiệt hại to lớn về tài sản cho nhà nước, xã hội và công dân mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình trật tự an toàn xã hội. Gần đây, hàng loạt những vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản lớn đã được đưa ra xét xử trong thời gian vừa qua như: Vụ án Huỳnh Thị Huyền Như lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều ngân hàng và cá nhân với tổng số tiền hơn 4.900 tỷ đồng; vụ án Lê Xuân Giang, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty liên kết Việt và đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt 2.000 tỷ đồng của 60.000 người; vụ Chu Minh Ngọc, Giám đốc Công ty Cimco cùng đồng bọn lập khống hồ sơ mua bán thép để hợp thức hồ sơ vay vốn lừa đảo chiếm đoạt 1.124 tỷ đồng của 7 ngân hàng; vụ Phan Bá Tòng, Giám đốc Công ty TNHH xuất nhập khẩu thủy sản Thiên Mã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt 700 tỷ đồng của các ngân hàng và khách hàng; vụ Công ty Cổ phần thương mại đầu tư Phúc Gia Bảo lừa đảo chiếm đoạt 178 tỷ đồng.

Các nhà nghiên cứu tội phạm học cũng đã xác định: “Các tội phạm kinh tế là những tội phạm có độ ẩn cao. Số liệu thống kê về những tội phạm đã được phát hiện, điều tra và xử lý chỉ phản ánh một phần của tội phạm đã xảy ra, còn một phần quan trọng khác mà cơ quan pháp luật chưa nắm bắt được, chưa phát hiện được” (*).

Nguyên nhân “ẩn” của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tỷ lệ tội phạm ẩn làm sai lệch đánh giá thực trạng tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bởi nó sẽ làm sai lệch đi những dự báo tội phạm gây khó khăn cho hoạch định chính sách, kế hoạch phòng, chống tội phạm. Không chỉ vậy, việc tính toán thiếu chính xác tỷ lệ tội phạm ẩn còn làm giảm uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Một bộ phận đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm nhưng lại chưa bị xử lý hình sự gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm tăng tỷ lệ tái phạm tội. Đặc biệt, tội phạm ẩn làm sai lệch nguyên tắc “không thể tránh khỏi sự trừng phạt của pháp luật đối với các hành vi phạm tội”.

Nghiên cứu về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, có thể thấy tội phạm này ẩn bởi một số nguyên nhân như sau:

Thứ nhất, không giống với các tội phạm hình sự khác, hành vi mang tính bạo lực thể hiện tương đối rõ thì tội phạm kinh tế nói chung, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng, sắc thái “trí lực” giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động của tội phạm, đặc biệt với những đối tượng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc chức năng đấu tranh của lực lượng Cảnh sát kinh tế. Đây là tội phạm thuộc chức năng đấu tranh của cả lực lượng Cảnh sát hình sự và lực lượng Cảnh sát kinh tế, tuy nhiên, trong phân định phạm vi, thẩm quyền, lực lượng Cảnh sát kinh tế tiến hành đấu tranh với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong trường hợp đối tượng lợi dụng tư cách pháp nhân, thông qua ký kết hợp đồng kinh tế. Do vậy, phương thức, thủ đoạn của đối tượng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc chức năng đấu tranh của lực lượng Cảnh sát kinh tế thường phức tạp, đa dạng, tinh vi và khó phát hiện hơn. Hoạt động của các đối tượng thường sử dụng các nghiệp vụ quản lý kinh tế, thành lập công ty làm “bình phong” cho hoạt động phạm tội. Đây chính là một trong những nguyên nhân làm gia tăng độ ẩn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Thứ hai, khác với một số tội phạm xâm phạm trực tiếp đến quyền nhân thân, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâm phạm đến quyền tài sản. Căn cứ Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác. Chính vì vậy, hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhiều trường hợp không được tố giác kịp thời do khó nhận biết hơn, hiểu biết pháp luật của một bộ phận quần chúng nhân dân còn thấp, chưa có thói quen đối chiếu hành vi và quy phạm pháp luật hay quần chúng nhân dân không đánh giá được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Thứ ba, trong một số trường hợp, người bị hại trong các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng có thể có lợi ích liên quan đến tội phạm hoặc có trách nhiệm liên quan đến việc thất thoát tài sản. Những nguyên nhân này đã làm nảy sinh tâm lý không muốn hoặc ngần ngại khi tố giác hành vi phạm tội đến cơ quan chức năng. Ví dụ như những vụ án lừa đảo chiếm đoạt tiền thuế giá trị gia tăng của nhà nước, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của những tập đoàn kinh tế nhà nước… Nhóm nguyên nhân này chủ yếu xuất hiện ở những bị hại là các cơ quan nhà nước, tài sản bị chiếm đoạt là những tài sản chung, người có lợi ích hoặc trách nhiệm liên quan là những người có trách nhiệm quản lý, bảo quản tài sản, như: Nhân viên ngân hàng, thủ kho, thủ quỹ… Đối với nhóm bị hại này nếu như cơ quan Công an không tự chủ động thu thập thông tin thì hành vi phạm tội sẽ rất dễ bị ẩn.

Thứ tư, thực tiễn có những trường hợp người bị hại tin rằng cơ quan chức năng không thể thu hồi được tài sản cho mình, do vậy, họ đã tìm đến các phương thức khác “ngoài luật pháp”. Một bộ phận người bị hại thiếu hiểu biết pháp luật hoặc do những nguyên nhân khác làm “nản lòng” họ. Trạng thái tâm lý này cũng là nguyên nhân góp phần làm gia tăng tỷ lệ ẩn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Thứ năm, tình trạng một số văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý kinh tế phức tạp, việc phân biệt giữa tội phạm kinh tế và các tranh chấp kinh tế dân sự khác không phải là điều dễ dàng. Chẳng hạn như việc xác định thủ đoạn gian dối trong tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) với hành vi lừa dối (được quy định tại Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2015) là vấn đề nảy sinh nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn. Hay việc xác định thế nào là chiếm đoạt, thời điểm chiếm đoạt tài sản trong một số tình huống cụ thể cũng gây nhiều tranh cãi… Những bất cập này dẫn tới việc nhìn nhận, đánh giá hành vi dễ bị phi hình sự hóa hành vi có dấu hiệu của tội phạm, làm gia tăng tỷ lệ tội phạm ẩn.

Thứ sáu, tỷ lệ ẩn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn có nguyên nhân một phần từ việc tổ chức tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm chưa hợp lý, những người được phân công làm nhiệm vụ tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm trình độ yếu. Không phủ nhận, ở một số đơn vị còn xảy ra tình trạng xem nhẹ việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm nói chung, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng. Việc cán bộ tiếp nhận tin báo về tội phạm hình thức, không khai thác triệt để tin báo, tố giác gây khó khăn cho công tác điều tra sau này, thậm chí không còn địa chỉ liên hệ của người báo tin.

Thứ bảy, hoạt động phòng ngừa và điều tra của cơ quan chức năng còn hạn chế, thiếu sót; cụ thể, trong hoạt động phòng ngừa, tình trạng đối tượng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nằm ngoài diện quản lý nghiệp vụ còn chiếm tỷ lệ cao; công tác tổ chức nguồn tin chưa được quan tâm đúng mức, phần lớn nguồn tin của các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản hiện nay đưa đến từ những người bị hại; các biện pháp ngăn chặn chưa được đầu tư nhiều… Đối với hoạt động điều tra, công tác mở rộng vụ án để phát hiện đường dây phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn yếu; chất lượng điều tra còn hạn chế và tiến độ điều tra còn chậm làm giảm tính răn đe của pháp luật đối với tội phạm…

Giải pháp hạn chế tỷ lệ ẩn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Từ việc nghiên cứu, xác định những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ ẩn cao của tình trạng tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong những năm qua, tác giả đề xuất một số giải pháp góp phần hạn chế tỷ lệ ẩn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản thời gian tới như sau:

Một là, tham mưu, hoàn thiện những quy định của hệ thống pháp luật về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, như: Phân định rõ hơn hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với những hành vi thuộc về tranh chấp kinh tế, dân sự; hướng dẫn cụ thể về thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt trong tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản; quy định còn mơ hồ, trừu tượng trong một số lĩnh vực kinh tế liên quan khác, như: Ngân hàng, bất động sản, chứng khoán, thương mại… Những quy định rõ ràng của hệ thống chính sách pháp luật tạo thuận lợi cho hoạt động của cơ quan chức năng đấu tranh phòng, chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, góp phần làm giảm tỷ lệ tội phạm ẩn.

Hai là, tăng cường phổ biến, giáo dục kiến thức pháp luật cho người dân. Mục đích của hoạt động này là nhằm nâng cao ý thức tự bảo quản tài sản cho quần chúng nhân dân, nhận thức được những thủ đoạn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản để tránh trở thành bị hại của loại tội phạm này, hơn thế nữa, quần chúng nhân dân còn có thể cung cấp thông tin, tố giác tội phạm, kéo giảm tỷ lệ tội phạm ẩn. Nội dung hướng tới việc phổ biến kiến thức pháp luật hình sự quy định về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, những quy định về hợp đồng, tài sản… trong Bộ luật Dân sự.

Ba là, tổ chức tốt công tác vận động quần chúng tố giác tội phạm. Đây được coi là giải pháp hữu hiệu đối với việc làm giảm tỷ lệ tội phạm ẩn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cảnh sát kinh tế có thể thực hiện công tác này bằng nhiều hoạt động khác nhau như: Phối hợp với các cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức, hội… để vận động. Thông qua công tác này, lực lượng Cảnh sát kinh tế sẽ thu thập được nhiều hơn những thông tin phản ánh về tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bổ sung tài liệu hỗ trợ việc phát hiện, quản lý đối tượng cũng như ngăn chặn hoạt động phạm tội của tội phạm.

Bốn là, nâng cao hiệu quả hoạt động tiếp nhận và xử lý tin báo về tội phạm. Xác định đây là một trong những nguồn thông tin phục vụ cho phát hiện, điều tra tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lực lượng Cảnh sát kinh tế cần tổ chức cán bộ hợp lý có trình độ năng lực, thực hiện đúng quy trình, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ thực hiện công tác này. Từ việc tiếp nhận tin báo bài bản sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ ẩn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong thời gian tới.

Năm là, nâng cao chất lượng tiến hành hoạt động phòng ngừa, điều tra tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo chức năng của lực lượng Cảnh sát kinh tế. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát kinh tế cần không ngừng học tập kinh nghiệm, hoàn thiện bản thân, trau dồi kiến thức pháp luật, nghiệp vụ phục vụ cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bên cạnh đó, tăng cường mối quan hệ phối hợp với các cơ quan Viện kiểm sát, Tòa án tiến hành điều tra, xét xử các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản đúng tiến độ, nghiêm minh, đúng người, đúng tội cũng có tác dụng hỗ trợ cho mục tiêu làm giảm tỷ lệ tội phạm ẩn của tội phạm này./.

(Trích Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm)

Categories
Kiến thức pháp luật Nghiên cứu và bình luận

Luật An toàn vệ sinh lao động và 8 điểm đáng chú ý năm 2018

An toàn, vệ sinh lao động là những giải pháp nhằm bảo vệ tính mạng và sức khỏe của người lao động (NLĐ) và những người xung quanh. Dưới đây là tổng hợp những nội dung đáng chú ý của Luật An toàn vệ sinh lao động 2015, được quy định chi tiết bởi các văn bản hướng dẫn.

1. An toàn, vệ sinh lao động là gì?

An toàn vệ sinh lao động là gì? (Ảnh minh họa)

An toàn lao động là tình trạng điều kiện lao động mà ở đó không xảy ra nguy hiểm cho NLĐ và những người xung quanh.

Theo quy định của Luật An toàn vệ sinh lao động 2015, an toàn, vệ sinh lao động là hai khái niệm riêng biệt:

– An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động.

– Vệ sinh lao động là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động.

Như vậy, an toàn, vệ sinh lao động là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về các giải pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe cho NLĐ trực tiếp và những người xung quanh.

2. Mức đóng BH tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là 0,5%

Điều 12 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015, nghiêm cấm người sử dụng lao động (NSDLĐ) trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Điều 3 Nghị định 44/2017/NĐ-CP, NSDLĐ hằng tháng đóng vào Quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp với mức như sau:

– 0,5% trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) của người lao động, cán bộ, công chức, viên chức… trừ trường hợp lao động là người giúp việc gia đình.

– 0,5% trên mức lương cơ sở đối với hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn…

Mức đóng BH tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (Ảnh minh họa)

3. Bị tai nạn giao thông có thể được xem là tai nạn lao động

Điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động
NLĐ tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau:

– Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc như nghỉ giải lao, ăn giữa ca…

– Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của NSDLĐ…

– Trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;

Thứ hai, suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn thuộc 03 trường hợp trên.

Như vậy, tai nạn giao thông có thể được hưởng chế độ tai nạn lao động nếu xảy ra trong 03 trường hợp nêu trên.

03 trường hợp tai nạn không được hưởng chế độ tai nạn lao động
Tuy nhiên NLĐ sẽ không được hưởng chế độ tai nạn lao động khi xảy ra tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau:

– Tai nạn do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động;

– Tai nạn do NLĐ cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân;

– Tai nạn do say rượu, bia hoặc sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy.

4. NLĐ bị tai nạn được bồi thường tối thiểu 1,5 tháng lương

Quyền lợi của NLĐ khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
– Được tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị khi bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp

– Được thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định;

– Được trả đủ tiền lương trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động; hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp.

Quyền của NLĐ khi bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp (Ảnh minh họa)

Trường hợp tai nạn không hoàn toàn do lỗi của NLĐ gây ra
NSDLĐ có trách nhiệm bồi thường cho NLĐ bị tai nạn với mức như sau:

– Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu bị suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;

– Ít nhất 30 tháng tiền lương cho NLĐ bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân NLĐ bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Trường hợp tai nạn do lỗi của NLĐ gây ra
Trường hợp tai nạn do lỗi của NLĐ gây ra thì NSDLĐ phải trợ cấp cho NLĐ khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định khi tai nạn mà không hoàn toàn do lỗi của NLĐ gây ra.

5. Rời nơi làm việc không an toàn có được trả đủ lương?
NLĐ có quyền từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc mà vẫn được trả đủ tiền lương và không bị coi là vi phạm kỷ luật lao động khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khỏe của mình nhưng phải báo ngay cho người quản lý trực tiếp để có phương án xử lý.

Đây là một trong những quyền của NLĐ để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của mình. Để được trả lương đầy đủ trong trường hợp này phải đáp ứng 02 các điều kiện sau:

– NLĐ thấy rõ nguy cơ xảy ra tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của mình;

– Phải báo ngay cho người quản lý trực tiếp về nguy cơ đó để có phương án xử lý.

Trường hợp NLĐ thấy nguy cơ xảy ra tai nạn đe dọa nghiêm trọng tính mạng và sức khỏe của mình mà không báo ngay cho người quản lý trực tiếp và tự ý nghỉ việc thì vẫn bị coi là vi phạm kỷ luật lao động.

NLĐ rời nơi làm việc không an toàn vẫn được trả đủ lương (Ảnh minh họa)

6. Cấm trả tiền thay cho bồi dưỡng bằng hiện vật
Bên cạnh các quy định cấm người sử dụng trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, theo khoản 7 Điều 12 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015 còn nghiêm cấm trả tiền thay cho bồi dưỡng bằng hiện vật. Quy định này cũng sẽ được áp dụng trong năm 2018.

Việc bồi dưỡng bằng hiện vật nhằm khắc phục các yếu tố nguy hiểm, độc hại trong quá trình làm việc của NLĐ.

Như vậy, NSDLĐ không được sử dụng các biện pháp khác thay thế bồi dưỡng bằng hiện vật đồng thời phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện chế độ này.

Theo khoản 2 Điều 2 Thông tư 25/2013/TT-BLĐTBXH, mức bồi dưỡng bằng hiện vật được tính theo định suất hàng ngày và có giá trị bằng tiền tương ứng theo các mức sau:

– Mức 1: 10.000 đồng;

– Mức 2: 15.000 đồng;

– Mức 3: 20.000 đồng;

– Mức 4: 25.000 đồng.

7. Mỗi tổ sản xuất phải có ít nhất 01 an toàn, vệ sinh viên
An toàn, vệ sinh viên là NLĐ trực tiếp, am hiểu chuyên môn kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động; tự nguyện và gương mẫu trong việc chấp hành các quy định an toàn, vệ sinh lao động và được NLĐ trong tổ bầu ra.

Theo khoản 1 Điều 74 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015, mỗi tổ sản xuất trong doanh nghiệp phải có ít nhất 01 an toàn, vệ sinh viên kiêm nhiệm trong giờ làm việc.

Theo đó, NSDLĐ ra quyết định thành lập và ban hành quy chế hoạt động của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên sau khi thống nhất ý kiến với Ban chấp hành công đoàn cơ sở nếu doanh nghiệp đã thành lập Ban chấp hành công đoàn cơ sở.

An toàn, vệ sinh viên sẽ hoạt động dưới sự quản lý và hướng dẫn của Ban chấp hành công đoàn cơ sở, có trách nhiệm giám sát việc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động; phát hiện những trường hợp mất an toàn, vệ sinh của máy móc, thiết bị…

8. Vi phạm an toàn vệ sinh lao động, có thể bị phạt tù tới 12 năm

Vi phạm an toàn vệ sinh lao động, phạt tù tới 12 năm (Ảnh minh họa)

Tùy thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm, hành vi vi phạm quy định an toàn vệ sinh lao động có thể bị xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự.

Theo quy định tại Nghị định 95/2013/NĐ-CP một số lỗi vi phạm an toàn vệ sinh lao động điển hình và mức xử phạt như sau:

– Không tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động mức phạt tiền từ 01 triệu đồng – 20 triệu đồng;

– Không trang bị phương tiện bảo hộ cho NLĐ phạt tiền từ 03 triệu đồng – 30 triệu đồng;

– Không kiểm tra định kỳ kỹ thuật an toàn cho máy và thiết bị mức phạt tiền từ 05 triệu đồng -10 triệu đồng…

Ngoài ra, tổ chức, cá nhân vi phạm còn bị buộc thực hiện một số biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc ngừng sử dụng máy, thiết bị, nơi làm việc có nguy cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Buộc trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân đạt tiêu chuẩn về chất lượng;…

Việc vi phạm an toàn vệ sinh lao động còn có thể bị xử lý hình sự theo quy định tại Điều 295 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 với mức phạt tù cao nhất lên tới 12 năm.

Đồng thời ngoài việc bị áp dụng hình phạt tù tùy từng trường hợp cụ thể người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng – 50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 – 05 năm.

(Theo Luatvietnam.vn)

Categories
Kiến thức pháp luật Nghiên cứu và bình luận

Khó khăn khi yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ

Thực tiễn, trong nhiều vụ án tranh chấp về đất đai, đương sự khó có thể tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ do cơ quan, tổ chức lưu giữ mà phải đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ. Tuy nhiên, cá nhân, tổ chức trả lời rất chậm trễ dẫn đến việc giải quyết kéo dài.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát.

Trong thực tiễn, hiện nay tranh chấp quyền sử dụng đất xảy ra nhiều, có vụ tranh chấp đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có vụ tranh chấp một bên có giấy chứng nhận đất một bên chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng có tài sản trên đất, tranh chấp quyền sử dụng đất do cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên kia…

Theo đó, đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự. Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật tố tụng dân sự quy định.


(Ảnh minh họa)

Đồng thời, BLTTDS cũng đã quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây gọi là Viện kiểm sát) tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát theo quy định của BLTTDS và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát.

Và khoản 1 Điều 106 BLTTDS năm 2015 quy định đương sự có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ. Khi yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ, đương sự phải làm văn bản yêu cầu ghi rõ tài liệu, chứng cứ cần cung cấp; lý do cung cấp; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cần cung cấp. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ cho đương sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp không cung cấp được thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người có yêu cầu.

Tuy nhiên, trong thực tế đương sự khó có thể tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ do cơ quan, tổ chức lưu giữ để cung cấp cho Tòa án theo quy định của BLTTDS. Do vậy, đương sự có đơn đề nghị Tòa án xác minh thu thập chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ.

Trên cơ sở yêu cầu của đương sự, Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Theo đó, cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; hết thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Việc xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là lý do miễn nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Trường hợp Viện kiểm sát có yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện theo quy định như quy định cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Thực tế, nhiều trường hợp, Tòa án đã ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án theo quy định của BLTTDS để Tòa án giải quyết vụ án đúng thời hạn luật định thì cơ quan, tổ chức đang lưu giữ tài liệu chứng cứ như bản đồ, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thủ tục đăng ký đất đai… hoặc trả lời quan điểm về diện tích đất thừa, thiếu so với diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rất chậm trễ làm cho vụ án kéo dài, ảnh hưởng đến trình tự tố tụng.

Trong khi đó, người tiến hành tố tụng không kiên quyết áp dụng khoản 3 Điều 106 của BLTTDS để kiến nghị xử lý đối với hành vi chậm trễ của cơ quan, tổ chức mà lại ra Quyết định tạm định chỉ giải quyết vụ án với lý do chờ ý kiến trả lời của cơ quan, tổ chức đang giữ tài liệu, chứng cứ. Do đó, có một số vụ án tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án kéo dài đến 2-3 năm mà không ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án vì cơ quan, tổ chức chưa cung cấp tài liệu, chứng cứ.

Để có căn cứ kiến nghị xử lý những trường hợp cơ quan, tổ chức không thực hiện đúng quy định tại Điều 7, Điều 106 BLTTDS, cơ quan có thẩm quyền cần có văn bản hướng dẫn chi tiết hoặc có quy chế phối hợp liên ngành để đảm bảo việc yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo quy định của BLTTDS được nhanh chóng, kịp thời.

(Theo Kiểm sát Online)