Categories
Khác Tin tức trong nước

Hồ sơ, trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014

Giải thể doanh nghiệp là một trong những thủ tục quy định tại Luật Doanh nghiệp để doanh nghiệp thực hiện việc rút lui khỏi thị trường. Việc giải thể doanh nghiệp không chỉ làm phát sinh quan hệ giữa các thành viên trong nội bộ doanh nghiệp mà còn là quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể khác, bao gồm bạn hàng, đối tác, người lao động trong doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước. Đây là những quan hệ liên quan đến tài sản và liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước. Hoạt động giải thể chỉ được coi là hoàn thành nếu doanh nghiệp đã xử lý xong mối quan hệ với tất cả các chủ thể nói trên. Vì vậy, việc giải thể doanh nghiệp phải tuân theo những thủ tục nhất định. Bài viết dưới đây sẽ phân tích cụ thể về hồ sơ, trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 cũng như trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của các bên có liên quan.


I. Về trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp
1. Đối với trường hợp “giải thể tự nguyện”
Bước 1: Thông qua quyết định giải thể công ty
Để có thể tiến hành giải thể doanh nghiệp trước hết doanh nghiệp cần tổ chức họp để thông qua quyết định giải thể. Theo đó, việc giải thể phải được thông qua bởi chủ sở hữu đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, bởi Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, bởi Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần và bởi các thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh.
Quyết định này thể hiện sự nhất trí của các thành viên về các vấn đề liên quan đến lý do giải thể; thời hạn, thủ tục thanh lý hợp đồng và thanh toán các khoản nợ; phương án xử lý các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng lao động và việc thành lập tổ thanh lý tài sản.
Quyết định giải thể doanh nghiệp phải có các nội dung chủ yếu sau:
– Tên, địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp;
– Lý do giải thể;
– Thời hạn, thủ tục thanh lý hợp đồng và thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp; thời hạn thanh toán nợ, thanh lý hợp đồng không được vượt quá 06 tháng, kể từ ngày thông qua quyết định giải thể;
– Phương án xử lý các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng lao động;
– Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Bước 2: Thông báo công khai quyết định giải thể
Sau khi quyết định giải thể được thông qua, doanh nghiệp phải thông báo cho những người có quyền và lợi ích liên quan đến hoạt động giải thể doanh nghiệp biết về quyết định giải thể. Trường hợp doanh nghiệp còn nghĩa vụ tài chính chưa thanh toán thì phải gửi kèm theo quyết định giải thể phương án giải quyết nợ đến các chủ nợ, người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan. Thông báo phải có tên, địa chỉ của chủ nợ; số nợ, thời hạn, địa điểm và phương thức thanh toán số nợ đó; cách thức và thời hạn giải quyết khiếu nại của chủ nợ.
Bước 3: Thanh lý tài sản và thanh toán các khoản nợ của công ty
Khoản 2 và Khoản 5 Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về người tổ chức thanh lý tài sản và thứ tự thanh toán nợ. Theo đó, chủ doanh nghiệp tư nhân, Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty, Hội đồng quản trị trực tiếp tổ chức thanh lý tài sản doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định thành lập tổ chức thanh lý riêng.
Các khoản nợ của doanh nghiệp được thanh toán theo thứ tự sau:
(1) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;
(2) Nợ thuế;
(3) Các khoản nợ khác.
Sau khi đã thanh toán hết các khoản nợ và chi phí giải thể doanh nghiệp, phần còn lại thuộc về chủ thể doanh nghiệp tư nhân, các thành viên, cổ đông hoặc chủ sở hữu công ty.
Theo Điểm c Khoản 1 Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì thời hạn thanh lý hợp đồng không được vượt quá 06 tháng, kể từ ngày thông qua quyết định giải thể.
Một số ý kiến cho rằng, thời gian này chỉ phù hợp với những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, không có mối quan hệ giao dịch phức tạp, tài sản có tính thanh khoản cao. Với những doanh nghiệp có quy mô lớn hoặc có nhiều tài sản (như bất động sản), cần thời gian dài để thanh lý và trả nợ thì thời gian này có thể sẽ không đủ để giải quyết hết các hợp đồng và thanh toán công nợ.
Việc thanh toán các khoản nợ là rất phức tạp vì cần phải quy định một trình tự phù hợp nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của những người liên quan.
Bước 4: Nộp hồ sơ giải thể
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 203 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp gửi hồ sơ giải thể đến Cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày thanh toán hết các khoản nợ của doanh nghiệp. Hồ sơ giải thể doanh nghiệp cũng được quy định cụ thể tại Điều 204 Luật này.
Bước 5: Cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
Khoản 8 Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định việc giải thể doanh nghiệp thực hiện theo hai phương thức:
– Trường hợp giải thể theo hồ sơ, Điều 59 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy định sau khi nhận được hồ sơ giải thể của doanh nghiệp, cơ quan đăng ký kinh doanh gửi thông tin về việc doanh nghiệp đăng ký giải thể cho cơ quan thuế. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin của cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế gửi ý kiến về việc giải thể của doanh nghiệp đến cơ quan đăng ký kinh doanh.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ giải thể, Cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
– Trường hợp giải thể tự động, sau thời hạn 180 ngày, kể từ ngày thông báo tình trạng giải thể doanh nghiệp mà không nhận phản đối của bên có liên quan bằng văn bản, cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi cơ quan thuế sẽ phải khẩn trương thực hiện thủ tục quyết toán thuế cho doanh nghiệp.Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng bổ sung quy định về giải thể doanh nghiệp trong trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc theo quyết định của Tòa án.

Sơ đồ: Quy trình giải thể doanh nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014

2. Đối với trường hợp “giải thể bắt buộc”
Bước 1: Cơ quan đăng ký kinh doanh thông báo tình trạng doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
Cơ quan đăng ký kinh doanh phải thông báo tình trạng doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đồng thời với việc ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc ngay sau khi nhận được quyết định giải thể của Tòa án đã có hiệu lực thi hành. Kèm theo thông báo còn phải đăng tải quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định của Tòa án.
Bước 2: Ra quyết định giải thể và gửi quyết định này đến cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, người lao động trong doanh nghiệp và công khai quyết định này
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực, doanh nghiệp phải triệu tập họp để ra quyết định giải thể. Doanh nghiệp phải gửi quyết định giải thể và bản sao quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật đến cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, người lao động trong doanh nghiệp. Quyết định giải thể phải được niêm yết công khai tại trụ sở chính, chi nhánh của doanh nghiệp. Trong một số trường hợp mà pháp luật có yêu cầu phải đăng báo thì quyết định giải thể doanh nghiệp phải được đăng ít nhất trên một tờ báo viết hoặc báo điện tử trong ba số liên tiếp.
Trường hợp doanh nghiệp còn nghĩa vụ tài chính chưa thanh toán thì phải gửi kèm theo quyết định giải thể phương án giải quyết nợ đến các chủ nợ, người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan. Thông báo phải có tên, địa chỉ của chủ nợ; số nợ, thời hạn, địa điểm và phương thức thanh toán số nợ đó; cách thức và thời hạn giải quyết khiếu nại của chủ nợ.
Bước 3: Tổ chức thanh lý tài sản và thanh toán các khoản nợ
Bước 4: Nộp yêu cầu giải thể doanh nghiệp
Bước 5: Cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật trình trạng pháp lý của doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
Trình tự, cách thức thực hiện tại các bước 3, 4, 5 thực hiện tương tự như trường hợp giải thể tự nguyện.
II. Về hồ sơ giải thể
Khoản 1 Điều 204 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định hồ sơ giải thể doanh nghiệp bao gồm các giấy tờ sau:
– Thông báo về giải thể doanh nghiệp;
– Báo cáo thanh lý tài sản doanh nghiệp; danh sách chủ nợ và số nợ đã thanh toán, gồm cả thanh toán hết các khoản nợ về thuế và nợ tiền đóng bảo hiểm xã hội, người lao động sau khi quyết định giải thể doanh nghiệp (nếu có);
– Con dấu và giấy chứng nhận mẫu dấu (nếu có);
– Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
III. Về trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của các bên có liên quan
Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về việc đảm bảo quyền và lợi ích của các bên có liên quan đến việc giải thể của doanh nghiệp như sau:
1. Về trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp đối với việc giải thể doanh nghiệp
Khoản 2, Khoản 3 Điều 204 Luật Doanh nghiệp năm 2014 có quy định về trách nhiệm cá nhân đối với tính trung thực, chính xác của hồ sơ giải thể doanh nghiệp. Theo đó, thành viên Hội đồng quản trị công ty cổ phần, thành viên Hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu công ty, chủ doanh nghiệp tư nhân, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, thành viên hợp danh, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của hồ sơ giải thể doanh nghiệp. Trường hợp hồ sơ giải thể không chính xác, giả mạo, những người nêu trên phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán số nợ chưa thanh toán, số thuế chưa nộp và quyền lợi của người lao động chưa được giải quyết và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về những hệ quả phát sinh trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày nộp hồ sơ giải thể doanh nghiệp đến cơ quan đăng ký kinh doanh.
2. Về các hoạt động bị cấm kể từ khi có quyết định giải thể
Điều 205 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định kể từ khi có quyết định giải thể doanh nghiệp, nghiêm cấm doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sau đây:
– Cất giấu, tẩu tán tài sản;
– Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ;
– Chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành các khoản nợ có bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp;
– Ký kết hợp đồng mới trừ trường hợp để thực hiện giải thể doanh nghiệp;
– Cầm cố, thế chấp, tặng cho, cho thuê tài sản;
– Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực;
– Huy động vốn dưới mọi hình thức.
Việc quy định các hành vi bị cấm nêu trên là nhằm ngăn chặn phát sinh thêm quyền và nghĩa vụ dẫn đến làm giảm khả năng trả nợ của doanh nghiệp, đồng thời, hạn chế việc doanh nghiệp tẩu tán tài sản, trốn tránh các nghĩa vụ với các đối tác trong quá trình hoạt động, gây ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan.

Theo Cục Quản lý đăng ký kinh doanh.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Quy định mới về loại hình bảo hiểm nông nghiệp

Ngày 18/4/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp; trong đó đã liệt kê các loại hình bảo hiểm nông nghiệp sau đây:


– Bảo hiểm đối với rủi ro định danh: khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) bồi thường cho tổn thất thực tế do các rủi ro được thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng bảo hiểm gây ra;

– Bảo hiểm mọi rủi ro: khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, DNBH bồi thường cho tổn thất thực tế do mọi rủi ro gây ra, trừ các trường hợp loại trừ trách nhiệm được thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng bảo hiểm;

– Bảo hiểm đối với tổn thất về thu nhập: khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, DNBH bồi thường chi phí sản xuất nông nghiệp để bù đắp tổn thất do các rủi ro được bảo hiểm gây ra theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Ngoài ra, còn có các loại hình bảo hiểm theo: chỉ số năng suất, chỉ số thời tiết, chỉ số viễn thám mà DNBH sẽ bồi thường theo biến động của các chỉ số này, không phụ thuộc vào tổn thất thực tế của đối tượng bảo hiểm.

Nghị định 58/2018/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 05/6/2018.

Theo Thư viện pháp luật.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Cán bộ tại VDB nghỉ hưu trước tuổi được hưởng hàng loạt đãi ngộ

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 29/NQ-CP về chế độ đối với người lao động nghỉ hưu trước tuổi tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB).

Những người thuộc đối tượng phải có độ tuổi từ 55 tuổi đến dưới 60 đối với nam, từ đủ 50 tuổi đến dưới 55 tuổi đối với nữ (tính tại thời điểm ngày 1/1/2018) và đã có từ đủ 20 năm đóng Bảo hiểm xã hội trở lên.

Theo đó, đối tượng áp dụng là người lao động tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam nhưng không bao gồm những người quản lý tại ngân hàng này, gồm: Chủ tịch Hội đồng quản trị, Phó chủ tịch Hội đồng Quản trị, Thành viên Hội đồng quản trị, Trưởng Ban Kiểm soát, Thành viên Ban Kiểm soát, Tổng giám đốc, các Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng bị hạn chế về năng lực hoàn thành công việc được giao trong giai đoạn Ngân hàng Phát triển Việt Nam đang thực hiện tái cơ cấu.

Những người này phải có độ tuổi từ 55 tuổi đến dưới 60 đối với nam, từ đủ 50 tuổi đến dưới 55 tuổi đối với nữ (tính tại thời điểm ngày 1/1/2018) và đã có từ đủ 20 năm đóng Bảo hiểm xã hội trở lên.

Người lao động tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam thuộc đối tượng trên, khi nghỉ hưu trước tuổi được thực hiện 1 lần trong năm 2018, được hưởng các chế độ sau:

Người lao động từ đủ 55 tuổi đến đủ 59 tuổi đối với nam tính tại thời điểm ngày 1/1/2018, từ đủ 50 tuổi đến đủ 54 tuổi đối với nữ tính tại thời điểm ngày 1/1/2018, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên, được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và các chế độ sau:

– Không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi.

– Được trợ cấp 03 tháng tiền lương cho mỗi năm (đủ 12 tháng, không tính tháng lẻ), nghỉ hưu trước tuổi. Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp cho người lao động nghỉ hưu trước tuổi là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 05 năm cuối cùng trước khi nghỉ việc.

– Được hỗ trợ 01 tháng lương cơ sở do Chính phủ quy định năm 2018 cho mỗi năm làm việc có đóng bảo hiểm xã hội, trường hợp có tháng lẻ thì từ dưới 01 tháng không được tính; từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.

Người lao động trên 59 tuổi nhưng chưa đủ 60 tuổi đối với nam tính tại thời điểm ngày 1/1/2018, trên 54 tuổi nhưng chưa đủ 55 tuổi đối với nữ tính tại thời điểm ngày 1/1/2018, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên thì được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và hưởng thêm các chế độ sau

– Không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi.

– Được hỗ trợ 0,5 tháng lương cơ sở do Chính phủ quy định năm 2018 cho mỗi năm làm việc có đóng bảo hiểm xã hội, trường hợp có tháng lẻ thì từ dưới 01 tháng không được tính; từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.

Các khoản trợ cấp, hỗ trợ trên được tính vào chi phí quản lý của Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

Chính phủ giao Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện rà soát, lập danh sách và dự toán số tiền trợ cấp đối với người lao động thuộc đối tượng nghỉ hưu trước tuổi, báo cáo Bộ Tài chính thẩm tra, phê duyệt để triển khai thực hiện trong năm 2018.

Bộ Tài chính thẩm tra, phê duyệt danh sách và kinh phí hỗ trợ đối với người lao động nghỉ hưu trước tuổi theo đề nghị của Ngân hàng Phát triển Việt Nam; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện.

Theo Vneconomy.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Chỉ thị 20/CT-TTg: Không kiểm tra doanh nghiệp quá 1 lần/năm

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa ký Chỉ thị 20/CT-TTg yêu cầu chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp.

Thủ tướng công bố với các doanh nghiệp tại Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với Doanh nghiệp ngày 17/5/2017 Chỉ thị số 20/CT-TTg về việc không thanh tra doanh nghiệp một năm quá một lần

Chỉ thị nêu rõ, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII và các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị nhằm tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm trong Chương trình hành động của Chính phủ. Theo tinh thần đó, các bộ, ngành và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tích cực thực hiện với nhiều biện pháp cụ thể, đặc biệt là đổi mới công tác xây dựng, phê duyệt và chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra; khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lặp, giảm thiểu phiền hà cho doanh nghiệp.

Tuy nhiên, qua theo dõi tình hình và phản ánh của cộng đồng doanh nghiệp thấy rằng, hoạt động thanh tra nói chung và hoạt động thanh tra, kiểm tra chuyên ngành nói riêng vẫn tồn tại những hạn chế, còn những vụ việc gây phiền hà, sách nhiễu doanh nghiệp; sự phối hợp giữa các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra chưa chặt chẽ; thời gian thanh tra kéo dài; nội dung tranh tra chưa rõ ràng, có khi vượt ra ngoài thẩm quyền quản lý; chậm ban hành kết luận thanh tra, chưa làm rõ được dấu hiệu vi phạm, kiến nghị xử lý chưa cụ thể…

Thực trạng nêu trên có nhiều nguyên nhân, trong đó nổi lên là sự phân công giữa các bộ, ngành ở Trung ương và sự phân cấp, ủy quyền giữa các Bộ, ngành ở Trung ương và chính quyền địa phương chưa rõ ràng. Nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại nói trên, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nghiêm túc quán triệt và chỉ đạo chặt chẽ công tác thanh tra thuộc phạm vi quản lý nhà nước được giao theo đúng quy định của Luật Thanh tra, Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra, Thông tư số 01/2014/TT-TTCP ngày 23/4/2014 của Thanh tra Chính phủ quy định việc xây dựng, phê duyệt định hướng chương trình thanh tra, kế hoạch thanh tra và đặc biệt là Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020.

Không để xảy ra tình trạng kiểm tra quá 1 lần/năm

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tập trung chỉ đạo khi xây dựng, phê duyệt kế hoạch thanh tra hàng năm không để xảy ra tình trạng thanh tra, kiểm tra quá 01 lần/năm đối với doanh nghiệp; trường hợp kế hoạch thanh tra trùng lặp, chồng chéo với hoạt động kiểm toán nhà nước thì chủ động phối hợp, trao đổi với Kiểm toán nhà nước, Thanh tra Chính phủ để thống nhất phương án xử lý theo quy định hiện hành, đảm bảo sự kế thừa kết quả thanh tra, kiểm toán, không làm cản trở hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Cần tiến hành rà soát, điều chỉnh kế hoạch thanh tra đã được phê duyệt theo tinh thần trên.

Đồng thời chỉ đạo tiến hành các cuộc thanh tra theo đúng định hướng, kế hoạch thanh tra đã phê duyệt; nội dung thanh tra phải giới hạn trong phạm vi quản lý nhà nước được giao; chủ động kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh kế hoạch thanh tra khi cần thiết theo hướng không làm tăng số cuộc thanh tra; ban hành kết luận thanh tra phải đúng thời hạn theo quy định.

Trường hợp thanh tra, kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật, chỉ ban hành quyết định thanh tra, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm rõ ràng; kết luận thanh tra, kiểm tra phải xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm. Người ra quyết định thanh tra, kiểm tra; trưởng đoàn thanh tra, kiểm tra; công chức thanh tra chuyên ngành phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc kết luận, làm rõ nguyên nhân, mức độ vi phạm và việc xử lý đối với cá nhân, tổ chức có liên quan theo các dấu hiệu đã được xác định là căn cứ để ra quyết định thanh tra, kiểm tra đột xuất. Không mở rộng phạm vi thanh tra, kiểm tra vượt quá nội dung của quyết định thanh tra, kiểm tra đột xuất.

Trường hợp phát hiện thấy nội dung, phạm vi thanh tra có chồng chéo, trùng lặp với cơ quan thực hiện chức năng thanh tra khác hoặc Kiểm toán nhà nước, Thủ trưởng cơ quan tiến hành thanh tra phải báo cáo ngay với Thủ trưởng cơ quan hành chính cùng cấp, cơ quan thanh tra cấp trên và cơ quan, đơn vị có liên quan để có giải pháp phù hợp tránh chồng chéo, trùng lặp và đảm bảo tính kế thừa trong hoạt động giữa các cơ quan, đơn vị.

Xử lý đơn vị, cá nhân để xảy ra tình trạng trùng lặp, chồng chéo

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải tăng cường kiểm tra việc thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra của các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của mình; kịp thời phát hiện, xử lý chồng chéo, trùng lặp theo thẩm quyền về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra, kiểm tra; xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, đơn vị, cá nhân để xảy ra tình trạng trùng lặp, chồng chéo.

Tổng Thanh tra Chính phủ phải tăng cường kiểm tra việc thực hiện kế hoạch thanh tra của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhằm kịp thời phát hiện, xử lý chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra theo thẩm quyền; kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, đơn vị, cá nhân để xảy ra tình trạng trùng lặp, chồng chéo.

Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, Thủ trưởng cơ quan thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra và các cá nhân có liên quan để xảy ra tình trạng chồng chéo, trùng lặp; quyết định thanh tra, kiểm tra thiếu căn cứ, không ban hành được kết luận thanh tra, kiểm tra theo các dấu hiệu vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hiện hành.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các cơ quan, tổ chức có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Chỉ thị này, thường xuyên thông báo và định kỳ hàng quý báo cáo kết quả về Thanh tra Chính phủ.

Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Hướng đến cải cách toàn diện hoạt động kiểm tra chuyên ngành

Nhằm tập trung cải cách toàn diện hoạt động kiểm tra chuyên ngành (KTCN), đảm bảo cắt giảm, đơn giản hóa 50% danh mục hàng hóa, sản phẩm và thủ tục KTCN theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 1/1/2018 của Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Hải quan đang triển khai nhiều giải pháp.

Hầu hết các cửa khẩu quốc tế hiện nay đều chưa có đại diện của các cơ quan kiểm tra an toàn thực phẩm, kiểm tra chất lượng.

Nhiều hạn chế đặt ra…

Hiện nay các văn bản quy phạm pháp luật quy định về quản lý và KTCN nhiều, phạm vi quản lý về kiểm tra rộng, nhiều mặt hàng chưa có mã số HS, chưa có đầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn để thực hiện việc kiểm tra, còn có sự chồng chéo trong quản lý KTCN.

Bên cạnh đó, việc KTCN thực hiện chủ yếu bằng phương thức thủ công, chưa áp dụng rộng rãi phương pháp quản lý rủi ro; chưa đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong việc tiếp nhận xử lý hồ sơ, trao đổi dữ liệu thông tin, công nhận kết quả KTCN. Đồng thời nguồn lực thực hiện KTCN đối với hàng hóa XNK tại cửa khẩu còn thiếu và yếu.

Trong khi đó, tại hầu hết các cửa khẩu quốc tế hiện nay đều chưa có đại diện của các cơ quan kiểm tra an toàn thực phẩm, kiểm tra chất lượng. Việc kiểm tra hàng hóa XNK phải gửi về phòng thí nghiệm trong nội địa, có nhiều trường hợp gửi về Hà Nội hoặc TP. Hồ Chí Minh để kiểm tra dẫn đến kéo dài thời gian thông quan hàng hóa.

Đánh giá thực trạng KTCN đối với hàng hóa XNK, ông Đỗ Văn Quang, Cục trưởng Cục Kiểm định Hải quan cho biết, cơ quan KTCN (trừ Kiểm dịch) chưa bố trí được lực lượng, phương tiện kiểm tra tại cửa khẩu, kết quả kiểm tra chậm dẫn đến kéo dài thời gian thông quan hàng hóa XNK. Đặc biệt, một số DN XNK chưa xác định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ trong việc thực hiện các quy định về quản lý, KTCN đối với hàng hóa XNK.

Hầu hết các cửa khẩu quốc tế hiện nay đều chưa có đại diện của các cơ quan kiểm tra an toàn thực phẩm, kiểm tra chất lượng

Ông Nguyễn Anh Quân, Giám đốc Công ty TNHH Kinh doanh thương mại tổng hợp A&Q (chuyên kinh doanh NK mặt hàng rau củ quả tươi qua cửa khẩu Tân Thanh) cho biết, đối với một số mặt hàng phải chịu sự quản lý KTCN của các cơ quan khác, do DN không có trụ sở tại tỉnh Lạng Sơn nên mất rất nhiều thời gian đi lại để hoàn tất các thủ tục, có khi mất đến 3 tuần mới nhận được kết quả KTCN, sau đó mới nộp được cho cơ quan Hải quan để làm thủ tục thông quan hàng hóa. Điều này đã gây nhiều khó khăn cho DN, hàng hóa hư hỏng, chi phí tăng cao, mất nhiều thời gian.

Theo khảo sát số liệu tại hồ sơ hải quan liên quan đến 2 mặt hàng là nông sản và phân bón đã thông quan năm 2017 cho thấy, nông sản NK, gần như 100% không thực hiện phân tích tại phòng kiểm nghiệm của cơ quan KTCN, chỉ kiểm tra hồ sơ theo phương pháp kiểm tra thông thường và cấp giấy chứng nhận kiểm tra an toàn thực phẩm ngay trong ngày mở tờ khai hải quan.

Ông Đỗ Văn Quang lý giải, mặc dù theo quy định tại Thông tư 12/2015/TT-BNNPTNT của Bộ NN&PTNT quy định về kiểm tra an toàn thực phẩm hàng hóa có nguồn gốc thực vật NK, với hình thức kiểm tra thông thường, tỷ lệ lấy mẫu kiểm nghiệm là 10% theo mức độ rủi ro hàng hóa, 30% lấy mẫu kiểm nghiệm với hình thức kiểm tra chặt. Trong đó, nếu lô hàng có kết quả không đạt, cơ quan KTCN sẽ xử lý theo các cách như: Chuyển đổi mục đích sử dụng, tiêu hủy, tái xuất, khắc phục lỗi ghi nhãn. Như vậy quy định pháp lý có lấy mẫu kiểm nghiệm, tuy nhiên, thực tế hầu như 100% hồ sơ hải quan hàng hóa đã thông quan phải KTCN không thể hiện việc lấy mẫu kiểm nghiệm theo quy định.

Với mặt hàng phân bón theo quy định tại Nghị định 108/2017/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý phân bón, phải kiểm tra chất lượng trước thông quan. Tuy nhiên, khảo sát thực tế trung bình phải 7 ngày làm việc mới có kết quả kiểm tra chất lượng, trên thông báo kết quả kiểm tra chất lượng chỉ ghi đạt, không thể hiện số liệu cũng như phương pháp thử nghiệm.

Hầu hết các cửa khẩu quốc tế hiện nay đều chưa có đại diện của các cơ quan kiểm tra an toàn thực phẩm, kiểm tra chất lượng.

Như vậy, câu hỏi đặt ra liệu các mặt hàng nông sản, phân bón NK có được lấy mẫu phân tích, thử nghiệm chất lượng tại phòng thí nghiệm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chỉ định theo mức độ rủi ro hàng hóa quy định hay không?

Hải quan sẽ thí điểm KTCN đối với một số mặt hàng

Mặc dù theo quy định hiện hành, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) không có chức năng quản lý chuyên ngành hàng hóa XNK nhưng lại là đơn vị đầu tiên tiếp xúc với hàng hóa XNK và chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về hải quan.

Trên thế giới, theo xu thế hải quan hiện đại như Hải quan Nhật Bản, Hàn Quốc… bên cạnh nhiệm vụ quản lý nhà nước về hải quan, cơ quan Hải quan còn tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh cộng đồng thông qua việc kiểm soát, ngăn chặn hàng hóa NK kém chất lượng và nguy hiểm.

Nhằm đưa Hải quan Việt Nam bắt kịp với hải quan các nước tiên tiến trên thế giới trong vai trò bảo vệ an ninh quốc gia, một trong những giải pháp để tạo điều kiện cho hoạt động XNK hàng hóa tại cửa khẩu theo hướng đơn giản hóa thủ tục, nhanh chóng, thuận tiện, giảm chi phí cho DN, Tổng cục Hải quan đang gấp rút hoàn thiện Đề án thí điểm KTCN hàng hóa XNK tại cơ quan Hải quan.

Đề án thí điểm KTCN hàng hóa XNK tại cơ quan Hải quan đưa ra hướng cải cách mới cho công tác KTCN hiện nay, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để cơ quan Hải quan tham gia vào công tác quản lý chuyên ngành.

Cũng theo ông Đỗ Văn Quang, nhằm cải cách đột phá để thay đổi cách thức KTCN việc cơ quan Hải quan tham gia thí điểm kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm mặt hàng nông sản NK và kiểm tra chất lượng mặt hàng phân bón khoáng sẽ thúc đẩy tính công khai, minh bạch trong công tác KTCN của các bộ quản lý chuyên ngành, qua đó góp phần tích cực, thúc đẩy việc cải cách KTCN của các bộ quản lý chuyên ngành. Đồng thời, khẳng định vai trò phòng thí nghiệm hải quan hiện đại.

Hoạt động kiểm định chất lượng hàng hóa tại Cục Kiểm định Hải quan.

Đặc biệt, Đề án thí điểm KTCN hàng hóa XNK tại cơ quan Hải quan cũng đặt tiền đề hướng dến phương án Bộ Tài chính phối hợp với các bộ quản lý chuyên ngành áp dụng quản lý rủi ro về KTCN đối với hàng hóa XNK. Cụ thể là cơ quan Hải quan sẽ kiểm định hàng hóa XNK theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn của bộ quản lý chuyên ngành. Những mặt hàng cơ quan Hải quan đã kiểm định thì bộ quản lý chuyên ngành không cần thiết phải kiểm tra nữa và kết quả kiểm tra của cơ quan Hải quan dùng để thông quan hàng hóa. Cơ quan Hải quan sẽ xây dựng cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin với cơ quan quản lý chuyên ngành những mặt hàng mà cơ quan Hải quan thực hiện kiểm định.

Ông Nguyễn Anh Quân, Giám đốc công ty TNHH Kinh doanh thương mại tổng hợp A&Q cho rằng, nếu cơ quan Hải quan là đầu mối trong việc kiểm định hàng hóa ngay tại cửa khẩu sẽ hỗ trợ rất lớn cho hoạt động kinh doanh, tăng tính cạnh tranh của DN trên thị trường. Đặc biệt, nếu cơ quan Hải quan được chỉ định là cơ quan kiểm định thì sẽ đối trọng với các cơ quan kiểm định khác, từ đó nhằm nâng cao hiệu quả của công tác kiểm định hàng hóa ngay tại cửa khẩu. DN sẽ không phải mất thời gian chờ đợi, hàng hóa được thông quan nhanh, chi phí cũng sẽ được giảm bớt là điều mà cộng đồng DN mong muốn lâu nay.

Theo dự thảo Đề án thí điểm KTCN hàng hóa XNK tại cơ quan Hải quan sẽ thực hiện thí điểm kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm đối với mặt hàng nông sản NK tại Chi cục Hải quan Tân Thanh (Cục Hải quan Lạng Sơn) và mặt hàng phân bón khoáng tại Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Lào Cai (Cục Hải quan Lào Cai) và Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn KV 1 (Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh) với thời gian thực hiện thí điểm là 1 năm.

Theo đó, để tránh xáo trộn việc kiểm tra cơ quan Hải quan sẽ chỉ thực hiện KTCN trên tỷ lệ lấy mẫu kiểm nghiệm là 10% với hình thức kiểm tra thông thường và 30% với hình thức kiểm tra chặt tại Thông tư 12/2015/TT-BTC đối với mặt hàng nông sản. Đối với mặt hàng phân bón khoáng, Cục Kiểm định Hải quan đóng vai trò như cơ quan KTCN, lấy mẫu, thực hiện kiểm nghiệm và thông báo kết quả.

Thời gian trả kết quả sau 5 ngày kể từ ngày lấy mẫu; kết quả được trả trên Cổng thông tin một cửa quốc gia và là căn cứ để thông quan hàng hóa.

Theo Báo Hải quan.

Categories
Khác Kiến thức pháp luật Tin tức trong nước Tư vấn pháp luật

Trình tự, thủ tục hợp thửa đất

Bà Nguyễn Hồng Đào có một thửa đất, sau đó bà mua một thửa liền kề, đã được tách thửa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà Đào hỏi, để thực hiện hợp thửa hai thửa đất trên bà phải thực hiện những thủ tục gì, nộp cho cơ quan nào và thời gian là bao lâu?

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Trả lời:

Ngày 19/5/2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT quy định về bản đồ địa chính. Theo quy định tại Tiết a, Điểm 2.3, Khoản 2, Điều 8 của Thông tư này thì thửa đất được xác định theo phạm vi quản lý, sử dụng của một người sử dụng đất hoặc của một nhóm người cùng sử dụng đất hoặc của một người được Nhà nước giao quản lý đất; có cùng mục đích sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai.

Theo đó, trường hợp hai thửa đất liền kề có cùng mục đích sử dụng của một người sử dụng đất, khi có yêu cầu về quản lý, sử dụng sẽ được hợp thành một thửa.

Trình tự, thủ tục hợp thửa đất thực hiện theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2, Điều 75 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; hướng dẫn tại Khoản 11, Điều 9 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT, người sử dụng đất nộp Văn phòng đăng ký đất đai 1 bộ hồ sơ đề nghị hợp thửa, gồm:

– Đơn đề nghị tách thửa hoặc hợp thửa theo Mẫu số 11/ĐK;

– Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp.

Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:

– Đo đạc địa chính để hợp thửa đất;

– Lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người sử dụng đất đối với thửa đất mới hợp thửa;

– Chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người được cấp hoặc gửi UBND cấp xã để trao đối với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã.

Thời gian thực hiện các thủ tục về đất đai do UBND cấp tỉnh nơi có đất quy định cụ thể. Thời gian thực hiện thủ tục hợp thửa đất thường không quá 30 ngày làm việc, kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Tư nhân được vay vốn ODA, cơ hội cho PPP giao thông

Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) vừa đưa ra dự thảo Nghị định về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài.

Thi công cao tốc Hạ Long – Vân Đồn, dự án được đầu tư từ nguồn vốn tư nhân

Những quy định trong dự thảo Nghị định về quản lý và sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài nếu được thông qua sẽ tạo cơ hội lớn cho các doanh nghiệp tư nhân tiếp cận với các nguồn vốn vay với lãi suất thấp để đầu tư vào các dự án hạ tầng giao thông theo hình thức đối tác công – tư (PPP).

Vốn ODA, vốn ưu đãi làm vốn góp của Nhà nước

Điểm đáng chú ý nhất trong dự thảo Nghị định là khu vực tư nhân được tiếp cận và sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi và phần vốn này tham gia với tư cách một bên góp vốn trong các dự án đầu tư theo hình thức PPP có sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi làm vốn đầu tư của Nhà nước.

Cụ thể, Điều 9, dự thảo Nghị định quy định các hình thức tiếp cận và sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi đối với khu vực tư nhân gồm: Tiếp cận và sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi trong khuôn khổ hạn mức tín dụng cho vay đến tổ chức tài chính, tín dụng trong nước để thực hiện các hoạt động phù hợp với điều ước quốc tế, thỏa thuận về vốn ODA, vốn vay ưu đãi và tuân thủ quy trình cho vay của tổ chức tài chính, tín dụng; vốn ODA, vốn vay ưu đãi tham gia với tư cách một bên góp vốn trong các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP) có sử dụng vốn ODA, vay ưu đãi làm vốn đầu tư của Nhà nước; vay lại nguồn vốn ODA, vay ưu đãi qua hệ thống ngân hàng thương mại theo phương thức ngân hàng thương mại chịu rủi ro tín dụng; tham gia thực hiện chương trình, dự án hỗ trợ khu vực tư nhân của cơ quan chủ quản.

Dự thảo Nghị định đưa ra quy trình 7 bước quản lý, sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi gồm: Vận động vốn ODA, vốn vay ưu đãi; xây dựng và lựa chọn đề xuất chương trình, dự án; lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án; lập, thẩm định, quyết định đầu tư chương trình dự án; đàm phán và ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận về vốn; quản lý thực hiện chương trình dự án và hoàn thành, chuyển giao kết quả thực hiện chương trình, dự án.

Đồng thời, dự thảo Nghị định cũng nêu rõ các lĩnh vực ưu tiên sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi gồm: Hỗ trợ thực hiện chương trình, dự án kết cấu hạ tầng KT-XH; sử dụng làm nguồn vốn đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công – tư (PPP); hỗ trợ nghiên cứu xây dựng chính sách phát triển KT-XH và tăng cường thể chế quản lý nhà nước…

TS. Lê Đăng Doanh đề nghị Bộ KH&ĐT cần công khai các tiêu chí đấu thầu nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi (Trong ảnh: Cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ – Dự án được đầu tư bằng hình thức PPP đang được mở rộng lên 6 làn xe)

Công khai tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp được vay vốn

Trao đổi với Báo giao thông về các quy định này, ông Phạm Văn Khôi, Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Công ty CP Đầu tư và xây dựng giao thông Phương Thành cho biết, năm 2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định 16 về quản lý và sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, trong đó có quy định cho phép khu vực tư nhân tiếp cận và sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi. Tuy nhiên, theo quy định của Nghị định 26/2016 chỉ có những doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực đầu tư thủy điện có thể tiếp cận được nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi, còn lại những doanh nghiệp tư nhân trong các lĩnh vực khác, trong đó có hạ tầng giao thông không thể tiếp cận được với các nguồn vốn này.

“Dự thảo Nghị định của Bộ KH&ĐT đang được đưa ra lấy ý kiến có nhiều quy định mới, tích cực để khu vực tư nhân, nhất là những doanh nghiệp trong lĩnh vực đầu tư, xây dựng hạ tầng giao thông tiếp cận được với nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi”, ông Khôi nói.

“Để tránh tình trạng “sân sau”, trong dự thảo Nghị định, Bộ KH&ĐT cần phải xây dựng và công bố công khai thời gian quy định đấu thầu, các tiêu chí, nội dung cụ thể khi tiến hành đấu thầu. Chỉ có như vậy, chúng ta mới lựa chọn được những doanh nghiệp có đủ khả năng tham gia vay vốn ODA, vay vốn ưu đãi, nếu không sẽ xảy ra tình trạng chạy cửa trước, luồn cửa sau”.

TS. Lê Đăng Doanh_nguyên Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế T.Ư

Theo ông Khôi, nguồn vốn trong nước dành cho giao thông hiện gặp rất nhiều khó khăn, nhất là vốn tín dụng cho các dự án PPP. Các dự án giao thông thường có tổng vốn đầu tư lớn, hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn tỷ đồng với nguồn vay chiếm đến 80%. “Khu vực tư nhân được tiếp cận và vay được vốn ODA, vốn ưu đãi để làm các dự án PPP giao thông sẽ là một kênh huy động vốn rất hiệu quả vì lãi suất thấp”, ông Khôi nói và cho rằng, khi tư nhân được vay vốn ODA, vốn ưu đãi và tự chịu trách nhiệm chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả cao, bởi bộ máy không cồng kềnh, quan liêu.

Tuy nhiên, ông Khôi cho rằng, Chính phủ cần phải xây dựng các cơ chế để lựa chọn những doanh nghiệp tư nhân hội tụ đủ các tiêu chí được tiếp cận vay vốn ODA, vốn ưu đãi. “Doanh nghiệp được lựa chọn vay vốn phải có tâm, có tầm và có khả năng trả nợ cho các tổ chức nước ngoài, dứt khoát không để tình trạng một vài con sâu làm rầu nồi canh”, ông Khôi nói.

TS. Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế T.Ư thẳng thắn nói: “Quy định cho phép doanh nghiệp tư nhân tiếp cận và vay vốn ODA, vốn vay ưu đãi trong dự thảo Nghị định do Bộ KH&ĐT đang đưa ra lấy ý kiến là nhằm đáp ứng yêu cầu của các nhà tài trợ vốn nước ngoài”.

Theo ông Doanh, trước đây, 65-75% nguồn vốn ODA của các tổ chức nước ngoài dành cho Việt Nam được chuyển cho các doanh nghiệp Nhà nước. Bây giờ, các tổ chức nước ngoài muốn chúng ta phải đấu thầu bình đẳng các nguồn vốn vay ODA, vốn vay ưu đãi.

“Đây là chủ trương rất đúng đắn để công khai, minh bạch nguồn vốn vay ODA, vốn vay ưu đãi”, ông Doanh khẳng định.

Theo Báo Giao thông.

Categories
Khác Tin tức quốc tế Tin tức trong nước

Thủ tướng Việt Nam – Philippines trao đổi về tình hình Biển Đông

Trao đổi tình hình hiện nay trên Biển Đông, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte nhấn mạnh tầm quan trọng của duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không; khẳng định nguyên tắc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Nhân dịp tham dự Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 32 tại Singapore, chiều 27/4, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc tiếp xúc song phương với Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Tổng thống Philippines Duterte

Tại cuộc gặp, hai bên chia sẻ các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm, trong đó có hợp tác trong ASEAN, các vấn đề an ninh khu vực như Biển Đông, chống tội phạm trên biển…

Hai bên chia sẻ tình hình hiện nay trên Biển Đông, nhấn mạnh tầm quan trọng của duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không; khẳng định nguyên tắc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS), ủng hộ thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), thúc đẩy ASEAN và Trung Quốc sớm hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu quả và ràng buộc.

Hai nhà lãnh đạo bày tỏ hài lòng trước quan hệ đối tác chiến lược tốt đẹp giữa hai nước thời gian qua với việc duy trì các cuộc tiếp xúc, trao đổi thực chất các vấn đề quan tâm, tăng cường hợp tác kinh tế-thương mại với kim ngạch hai chiều năm 2017 tăng 25% so với năm 2016, đạt hơn 4 tỷ USD, trong đó hợp tác thương mại gạo mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai bên; các cơ chế hợp tác, giao lưu trong lĩnh vực an ninh-quốc phòng được duy trì với nhiều hoạt động tạo dựng lòng tin.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị hai bên duy trì trao đổi đoàn cấp cao, đồng thời tích cực triển khai các cơ chế hợp tác, trong đó có hợp tác ứng phó sự cố tràn dầu và tìm kiếm cứu nạn trên biển, quản lý môi trường biển bền vững, đẩy mạnh hợp tác nghề cá, phòng chống khủng bố, hợp tác an ninh-quốc phòng…
Tổng thống Philippines nhấn mạnh Philippines coi trọng quan hệ hữu nghị hợp tác với Việt Nam; cảm ơn Chính phủ Việt Nam đã tạo điều kiện cho công dân Philippines sinh sống và làm việc, doanh nghiệp Philippines làm ăn hiệu quả tại Việt Nam.

Ông Duterte hoan nghênh các đề nghị của phía Việt Nam và bày tỏ Philippines sẵn sàng hợp tác với Việt Nam trong các lĩnh vực hai bên có thể bổ sung cho nhau. Tổng thống đánh giá cao chất lượng gạo của Việt Nam, mong muốn hai nước sẽ tiếp tục hợp tác về gạo và Việt Nam là nguồn cung cấp gạo ổn định và lâu dài cho Philippines.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc một lần nữa chúc mừng Philippines đã hoàn thành tốt đẹp nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN 2017, các kết quả đạt được trong 2017 đã giúp ASEAN tiếp tục phát triển, hướng tới xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN lấy người dân làm trung tâm.

Theo Dân trí.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Cần áp dụng hình phạt theo hướng có lợi nhất cho người chưa thành niên

Trong những năm gần đây, tỷ lệ tội phạm do thanh thiếu niên thực hiện ở nước ta đang ngày càng gia tăng với nhiều vụ việc gây chấn động dư luận cả nước. Đối với các tội do người chưa thành niên gây ra thì cần áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng với mục đích giáo dục để thay đổi nhận thức và hành vi của các đối tượng này chứ không dừng ở xử lý hình sự nhằm trừng phạt đơn thuần.

Ảnh minh họa.

Một yêu cầu nữa đặt ra khi xử lý hình sự người chưa thành niên phạm tội là phải bảo đảm được quyền của người chưa thành niên phù hợp với Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 mà Việt Nam là thành viên. Với đặc điểm tâm lý của người chưa thành niên là chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm sinh lý như người trưởng thành nên hệ thống tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên phải được xem xét riêng biệt, khác với người trưởng thành.

Tham khảo pháp luật một số nước như Anh, Nhật Bản, Thái Lan…, pháp luật các nước này đều thể hiện nguyên tắc khoan hồng đối với người chưa thành niên phạm tội thông qua giảm nhẹ hình phạt và không áp dụng hình phạt mà áp dụng biện pháp thay thế. Khi không áp dụng hình phạt thì người chưa thành niên ở Thái Lan được áp dụng các biện pháp thay thế xử lý hình sự như: cảnh cáo, giám sát tại gia đình, giám sát tại nơi cư trú, đưa đến trường giáo dưỡng.

Để phù hợp với xu thế chung của pháp luật quốc tế, Việt Nam cần sớm có luật về tư pháp đối với người chưa thành niên để kết nối quy định từ hành chính tới hình sự, bảo đảm việc xử lý người chưa thành niên phạm tội theo đúng trình tự, thủ tục, không chồng chéo hay mâu thuẫn trong quá trình áp dụng. Hiện nay, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã quy định nguyên tắc áp dụng các biện pháp thay thế xử lý hình sự ở Điều 90. Các biện pháp đó là khiển trách (Điều 91), hòa giải tại cộng đồng (Điều 92), giám sát giáo dục tại gia đình hoặc giám sát giáo dục của cơ quan, tổ chức (Điều 93). Tuy nhiên, các biện pháp này vẫn chờ những quy định về thủ tục để việc áp dụng mang lại hiệu quả, bảo đảm được các quyền của người chưa thành niên phạm tội và giúp họ thấy đó là cơ hội để thực sự hối lỗi, cải tạo, thay đổi bản thân thành người có nhân cách tốt có thể tái hòa nhập cộng đồng sau này.

Về áp dụng hình phạt và các biện pháp xử lý thay thế đối với người chưa thành niên phạm tội nên ưu tiên tối đa việc áp dụng các biện pháp phi hình phạt hoặc các hình phạt không nhằm mục đích giam giữ nhằm mục đích cải tạo người chưa thành niên phạm tội. Chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng và khi thực sự cần cách ly người chưa thành niên phạm tội để bảo vệ an toàn của cộng đồng.

Hiện nay, thời hạn tối đa áp dụng biện pháp phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội đã được quy định cụ thể. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù. Nếu là tù có thời hạn, mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 3/4 mức phạt tù mà điều luật quy định. Với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù, nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất không quá 1/2 mức phạt tù mà điều luật quy định.

Có thể thấy rằng việc áp dụng nguyên tắc hình phạt theo hướng có lợi nhất cho người chưa thành niên và áp dụng các biện pháp thay thế xử lý hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội là sự tiến bộ của tư pháp hình sự nhiều nước trên thế giới. Việt Nam cũng đang tiếp nhận theo hướng này để quy định bảo vệ quyền của người chưa thành niên phạm tội. Tuy nhiên, việc thực thi các quy định này cần phải được thực hiện một cách thống nhất, đồng bộ từ phía các cơ quan, tổ chức cũng như đề cao hơn nữa trách nhiệm của gia đình, nhà trường, của các cơ quan chuyên trách và toàn xã hội trong việc bảo vệ và chăm sóc người chưa thành niên. Có như vậy mới thực sự giáo dục, thay đổi được nhận thức, phát triển nhân cách của các đối tượng này theo chiều hướng tích cực hơn./.

Theo Pháp luật Việt Nam.