Categories
Khác Tin tức quốc tế Tin tức trong nước

Ông Trump ký sắc lệnh thuế thép – nhôm với thay đổi bất ngờ

Tổng thống Donald Trump hôm 8-3 đã ký các sắc lệnh đánh thuế thép, nhôm nhập khẩu, nhưng một số đồng minh của Mỹ sẽ được nằm trong danh sách ngoại lệ.

Theo lời một quan chức cấp cao, mức thuế mới, bắt đầu vào 15 ngày sau, sẽ không áp dụng cho thép, nhôm nhập khẩu từ Canada và Mexico để các quan chức Mỹ xem xét một thỏa thuận Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) mới.

Các nước khác có “quan hệ an ninh” với Mỹ có thể được xem xét để được miễn thuế bằng cách tổ chức các cuộc đối thoại với Washington về “những biện pháp thay thế” để giải quyết mối đe dọa từ sản phẩm của họ đối với an ninh quốc gia, quan chức trên nói thêm.

Kế hoạch này cho thấy sự thay đổi đáng kể từ ý định ban đầu của Tổng thống Trump. Trước đó, ông dự định áp dụng thuế thép, nhôm với mọi quốc gia. Việc miễn trừ ban đầu đối với Canada và Mexico sẽ không có thời hạn nhưng chỉ kéo dài đến khi nào chính quyền đánh giá triển vọng tái đàm phán NAFTA.

Tổng thống Donald Trump sẽ ký tuyên bố đánh thuế nhôm và thép vào ngày 8-3.

Đối với các nước không được miễn trừ, thép nhập khẩu sẽ bị đánh thuế 25% và nhôm là 10%. Nếu Mexico và Canada nhận được quyền miễn trừ dài hạn, mức thuế nhập khẩu của các nước khác có thể phải tăng lên hơn 25%, quan chức cao cấp nói thêm.

Theo kế hoạch, ông Trump sẽ chính thức thông báo sắc lệnh trên trong một sự kiện ở Nhà Trắng. “Tôi có quyền tăng hoặc giảm mức thuế tùy nước. Tôi cũng có thể thêm vào hay loại bỏ các quốc gia trong danh sách giảm thuế. Tôi chỉ muốn có sự công bằng vì chúng ta đã không nhận được điều đó từ các nước khác” – ông Trump nói.

Tổng thống Mỹ cho rằng việc đánh thuế là hành động cần thiết để bảo vệ 2 ngành công nghiệp nhôm và thép được xem là “xương sống của đất nước”. “Chúng ta sẽ vừa công bằng, linh hoạt, vừa bảo vệ người lao động Mỹ giống như lời tôi đã nói trong chiến dịch” – ông Trump bổ sung.

Theo NDTV/Người lao động.

Categories
Khác Tin tức quốc tế Tin tức trong nước

Tuyên bố chung về thiết lập Đối tác chiến lược Việt Nam – Australia

Trong khuôn khổ chuyến thăm Australia của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, hôm nay, 15/3, tại Canberra, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Australia Malcolm Turnbull đã ký Tuyên bố chung về thiết lập Đối tác chiến lược Việt Nam-Australia. Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung.

1. Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973, Việt Nam và Australia đã xây dựng mối quan hệ vững chắc và thực chất trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và các lợi ích chung. Sự tương đồng về lợi ích an ninh, kinh tế cũng như giao lưu nhân dân ngày càng sâu sắc là cơ sở giúp hai nước tăng cường quan hệ và hợp tác.

2. Quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam-Australia, thiết lập năm 2009 và được tăng cường năm 2015, là minh chứng cho những nỗ lực của Chính phủ và nhân dân hai nước cùng chung tay vun đắp quan hệ song phương.

3. Năm 2018 đánh dấu kỷ niệm 45 năm quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Australia, hai nước quyết định nâng cấp quan hệ song phương lên tầm Đối tác chiến lược nhân chuyến thăm chính thức Australia của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc.

4. Với việc thiết lập Đối tác chiến lược, Việt Nam và Australia khẳng định cam kết làm sâu sắc quan hệ hai nước trên cơ sở tôn trọng Hiến chương Liên Hợp Quốc, luật pháp quốc tế và chủ quyền, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ cũng như hệ thống chính trị của nhau. Hai bên sẽ tăng cường sự tin cậy và hiểu biết lẫn nhau nhằm làm sâu sắc quan hệ song phương, góp phần vào hòa bình, ổn định và thịnh vượng tại khu vực. Đặc biệt, hai bên cam kết cùng nỗ lực hợp tác nhằm duy trì một khu vực hòa bình, tự cường và bảo đảm các quy tắc, chuẩn mực đã tồn tại nhiều thập kỷ qua.

5. Chương trình Hành động Việt Nam-Australia giai đoạn 2016-2019 tiếp tục có hiệu lực và được gia hạn khi Tuyên bố chung này được ký kết.

Hợp tác song phương

Hợp tác chính trị

6. Hai bên cam kết làm sâu sắc hợp tác chính trị song phương, kể cả thông qua trao đổi đoàn cấp cao thường xuyên giữa Đảng Cộng sản, Chính phủ và Quốc hội Việt Nam, và các chính đảng, Chính phủ và Quốc hội Australia.

7. Để phù hợp với mối quan hệ hiện đại và năng động, hai bên sẽ tăng cường giao thiệp chính trị thông qua các hội nghị thường niên cấp bộ trưởng nhằm tranh thủ tối đa các cơ hội trao đổi quan điểm, ý tưởng và sáng kiến ​​về các vấn đề chiến lược. Hỗ trợ cho các trao đổi, tiếp xúc thường xuyên và cấp cao này là các cơ chế hợp tác song phương hiện có, bao gồm Đối thoại chiến lược 2+2, Đối thoại Việt Nam-Australia về quyền con người, Tham vấn lãnh sự Việt Nam-Australia và Diễn đàn nông nghiệp Việt Nam-Australia.

8. Hai bên cam kết tăng cường trao đổi chính trị về các vấn đề quốc tế và khu vực thông qua việc thiết lập cơ chế Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao thường niên.

9. Hai bên cam kết tăng cường tiếp xúc giữa các quan chức cấp cao nhằm đẩy mạnh hơn nữa hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế và thương mại, ngoại giao, quốc phòng, an ninh, pháp luật và tư pháp, khoa học, công nghệ, nông nghiệp, sáng tạo, giáo dục, và các lĩnh vực khác như lao động và du lịch.

Hợp tác kinh tế và phát triển

10. Hai bên cam kết làm sâu sắc quan hệ thương mại và đầu tư song phương, đồng thời tiếp tục thúc đẩy thương mại và đầu tư thông thoáng hơn thông qua hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu.

11. Trên cơ sở bổ trợ lẫn nhau của hai nền kinh tế, hai bên sẽ xúc tiến các biện pháp tiếp cận thị trường và thuận lợi hóa thương mại cho hàng hóa của nhau, bao gồm cả nông sản và hải sản.

12. Hai bên hoan nghênh việc thiết lập cơ chế Hội nghị Đối tác kinh tế thường niên cấp bộ trưởng để xác định các cơ hội mở rộng thương mại, đầu tư, hợp tác phát triển và cải cách kinh tế bền vững. Diễn đàn kinh tế mới này sẽ thay thế Ủy ban Hỗn hợp về hợp tác thương mại và kinh tế, giúp tăng cường đối thoại giữa các bộ trưởng chủ chốt phụ trách thương mại, đầu tư, phát triển và quy hoạch, đồng thời tạo sự đồng bộ giữa các khía cạnh khác nhau của liên kết kinh tế giữa hai nước.

13. Hai bên nhận thức rõ tầm quan trọng của mối liên kết mạnh mẽ và trực tiếp giữa các doanh nghiệp đối với quan hệ thương mại và đầu tư song phương. Hai bên khuyến khích doanh nghiệp hai nước đẩy mạnh kết nối và nâng cao hiểu biết về tính bổ trợ lẫn nhau của hai nền kinh tế, kể cả thông qua các đoàn doanh nghiệp và xúc tiến thương mại hai chiều.

14. Australia đánh giá cao những thành tựu to lớn về xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế của Việt Nam. Việt Nam hoan nghênh hỗ trợ phát triển chính thức song phương và khu vực nhiều năm qua của Australia. Hai bên cam kết xây dựng quan hệ đối tác kinh tế nhằm giúp Việt Nam thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội và phát triển, với trọng tâm là cải cách kinh tế, phát triển nguồn nhân lực, kết nối khu vực tư nhân, biến đổi khí hậu, bình đẳng giới và sáng tạo.

15. Hai bên sẽ tiếp tục xây dựng quan hệ đối tác cùng có lợi trong lĩnh vực nông nghiệp, bao gồm các dự án nghiên cứu chung và hỗ trợ kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực và khả năng cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam, thúc đẩy thực hiện các tiêu chuẩn quốc tế và chuỗi cung ứng tin cậy.

16. Hai bên cũng sẽ tăng cường hợp tác trong những lĩnh vực cùng có lợi như năng lượng, tài nguyên, kinh tế biển, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Hợp tác quốc phòng, pháp luật và tư pháp, tình báo và an ninh

17. Hai bên khẳng định quan hệ chiến lược và các lợi ích chung ở khu vực của hai bên ngày càng gia tăng, đồng thời tái khẳng định cam kết hợp tác chặt chẽ hơn nữa về quốc phòng, pháp luật và tư pháp, tình báo và an ninh nhằm đóng góp vào hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực.

18. Hai bên tái khẳng định cam kết tổ chức Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng thường niên nhằm thúc đẩy đối thoại ở cấp cao về các vấn đề quốc phòng trên cơ sở Bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng đã ký năm 2010. Đây là cơ hội tìm kiếm thêm các hình thức hợp tác quốc phòng, kể cả trong lĩnh vực đào tạo và huấn luyện, an ninh hàng hải và hàng không, đào tạo và hỗ trợ các hoạt động gìn giữ hòa bình, chống khủng bố, giải quyết hậu quả chiến tranh và các lĩnh vực khác.

19. Hai bên hoan nghênh hợp tác giữa cảnh sát, các cơ quan chức năng về quản lý biển và biên giới của hai nước, nhất trí cùng đẩy mạnh hợp tác về an ninh và thực thi pháp luật, kể cả thông qua Đối thoại an ninh thường niên cấp thứ trưởng, tăng cường trao đổi thông tin tình báo và hỗ trợ nâng cao năng lực.

20. Hai bên cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác song phương và tham gia các nỗ lực khu vực nhằm giải quyết các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, đặc biệt là tội phạm xuyên quốc gia, bao gồm buôn bán người và đưa người di cư trái phép, buôn lậu ma túy, rửa tiền, khủng bố, tội phạm mạng, cũng như thu hồi tài sản thất thoát từ các tội phạm này.

21. Hai bên sẽ tăng cường hợp tác song phương và khu vực giữa các cơ quan hoạch định chính sách, quản lý và thực thi pháp luật biển thông qua đối thoại, phối hợp, hợp tác thiết thực và các hoạt động nâng cao năng lực.

Hợp tác giáo dục, khoa học và công nghệ, lao động, xã hội, văn hóa và giao lưu nhân dân

22. Hai bên nhấn mạnh cần tăng cường giao lưu nhân dân, đặc biệt thông qua trao đổi thanh niên và sinh viên. Hai bên ủng hộ mạnh mẽ sinh viên Australia sang Việt Nam và sinh viên Việt Nam sang Australia học tập, thông qua Kế hoạch Colombo mới và các chương trình học bổng của Australia và Việt Nam.

23. Hai bên tái khẳng định ý nghĩa của hợp tác giáo dục, đào tạo và nghiên cứu cũng như vai trò của mạng lưới rộng lớn các cựu sinh viên Việt Nam từng theo học tại Australia. Hai bên nhất trí ủng hộ mở rộng đối thoại về chính sách giáo dục nhằm tăng cường liên kết giữa các cơ sở và cung cấp dịch vụ giáo dục xuyên quốc gia, trong đó có việc áp dụng công nghệ truyền thông tiên tiến, tạo thuận lợi về đi lại cho học sinh, học giả, nhà nghiên cứu và chuyên gia.

24. Hai bên sẽ thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực dạy nghề và các vấn đề xã hội, trong đó có thúc đẩy bình đẳng giới và ghi nhận những cơ hội về di chuyển lao động thông qua chương trình nhập cư dành cho lao động có tay nghề của Australia.

25. Hai bên sẽ tiếp tục thúc đẩy mở rộng hợp tác cùng có lợi trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và sáng tạo; tăng cường kết nối giữa các viện nghiên cứu; khuyến khích chuyển giao công nghệ, trao đổi chuyên gia và chia sẻ thông tin về khoa học, công nghệ và sáng tạo.

26. Hai bên đánh giá cao vai trò của các tổ chức nhân dân và xã hội hai nước trong việc thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp, tình hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân Việt Nam và Australia.

27. Hai bên đánh giá cao thành công của cộng đồng người Việt Nam tại Australia cũng như những đóng góp của họ cho quan hệ song phương. Hai bên đề cao vai trò của thanh niên trong việc xây dựng mạng lưới các nhà lãnh đạo tương lai và doanh nhân hai nước, đem lại nhiều lợi ích chung.

28. Hai bên cam kết triển khai hiệu quả Chương trình lao động kỳ nghỉ giữa Việt Nam và Australia.

29. Hai bên hoan nghênh sự gia tăng nhanh chóng số lượng du khách hai chiều cũng như sự phát triển có tính gắn kết giữa hàng không và du lịch, và sẽ tiếp tục tìm kiếm cơ hội đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực này.

30. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác văn hóa trong việc tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước và cam kết gia tăng hợp tác Việt Nam-Australia trong lĩnh vực này.

Hợp tác khu vực và quốc tế

31. Hai bên sẽ phối hợp chặt chẽ nhằm duy trì một trật tự khu vực mở, bao trùm và dựa trên luật lệ, coi đây là nền tảng của hòa bình, an ninh, ổn định và thịnh vượng ở khu vực. Hai bên chia sẻ mục tiêu củng cố và phát triển các thể chế khu vực và quốc tế nhằm thúc đẩy các lợi ích chung về chính trị, kinh tế và an ninh.

32. Hai bên ủng hộ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), tổ chức đã mang lại sự hài hòa và gắn kết cho khu vực. Hai bên sẽ tiếp tục thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN-Australia và đánh giá cao Hội nghị Cấp cao đặc biệt ASEAN-Australia mang tính lịch sử, với nhiều sáng kiến thực chất về tăng cường hợp tác.

33. Hai bên nhấn mạnh vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu ​​trúc khu vực đang định hình và cam kết tăng cường hợp tác để củng cố các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, như Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), trong đó ASEAN đóng vai trò đầu tàu thúc đẩy. Trên cơ sở đó, hai bên khẳng định tầm quan trọng của EAS là diễn đàn khu vực hàng đầu do các nhà lãnh đạo dẫn dắt nhằm thúc đẩy đối thoại và hợp tác về các vấn đề chiến lược, chính trị và kinh tế cùng quan tâm và có chung lợi ích.

34. Hai bên cam kết sẽ tiếp tục hợp tác giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu đang nổi lên, bao gồm khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mạng, buôn bán người và đưa người di cư trái phép, bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu, đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), an ninh năng lượng, an toàn và an ninh hàng hải, an ninh lương thực và nguồn nước, bệnh truyền nhiễm, cơ sở hạ tầng chất lượng, thu hẹp khoảng cách phát triển, kinh tế số cũng như ủng hộ tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy tự do hoá thương mại và đầu tư, và tăng cường kết nối vùng, tiểu vùng và phát triển bền vững tại khu vực.

35. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác về phát triển bền vững, bảo vệ và quản lý môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và khả năng chống chịu thiên tai trong quá trình thực hiện Chương trình Nghị sự phát triển bền vững 2030, Chương trình Khung Sendai về giảm nhẹ rủi ro thiên tai và Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu.

36. Hai bên tái khẳng định cam kết thúc đẩy an ninh và an toàn, tự do hàng hải và hàng không, thượng tôn pháp luật, bao gồm tuân thủ và thực thi nghiêm túc các nghĩa vụ pháp lý quốc tế; giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) và thông qua các cơ chế thích hợp do ASEAN dẫn dắt. Theo đó, hai bên tiếp tục quan ngại về tình hình Biển Đông và khẳng định tiếp tục phối hợp tích cực nhằm thúc đẩy hòa bình và ổn định tại khu vực. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử (COC) hiệu quả và ràng buộc giữa ASEAN và Trung Quốc, phù hợp với luật pháp quốc tế.

37. Trên cơ sở các kết quả quan trọng của Hội nghị các nhà lãnh đạo Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 25 tổ chức tại Đà Nẵng, Việt Nam, hai bên cam kết tăng cường hợp tác thúc đẩy liên kết kinh tế khu vực, thương mại và đầu tư tự do và cởi mở thông qua Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương tiến bộ và toàn diện, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực cũng như APEC, đồng thời ủng hộ hệ thống thương mại đa phương dựa trên luật pháp.

Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ.

Categories
Khác Tin tức quốc tế Tin tức trong nước

Tuyên bố chung Việt Nam – Singapore

Nhân chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Phu nhân tới Cộng hòa Singapore theo lời mời của Thủ tướng Lý Hiển Long, hai bên đã ra Tuyên bố chung. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung.

TUYÊN BỐ CHUNG

GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

VÀ CỘNG HÒA SINGAPORE

VỀ CHUYẾN THĂM CHÍNH THỨC SINGAPORE

CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VIỆT NAM NGUYỄN XUÂN PHÚC

(25 – 27 THÁNG 4 NĂM 2018)

————

1. Nhận lời mời của Thủ tướng nước Cộng hòa Singapore Lý Hiển Long, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc và Phu nhân Trần Nguyệt Thu đã thăm chính thức Singapore từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 4 năm 2018. Chuyến thăm có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hai nước đang kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 5 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Singapore trong năm 2018. Trong chuyến thăm, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã dự lễ đón, hội đàm và chiêu đãi chính thức của Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long; chào xã giao Tổng thống Singapore Halimah Yacob.

2. Hai Thủ tướng chứng kiến lễ ký các Bản ghi nhớ (MoU): (i) MoU về hợp tác kỹ thuật về môi trường và quản lý nguồn nước giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam và Bộ Môi trường và Nguồn nước của Singapore; (ii) MoU về khí hóa lỏng giữa Vụ Dầu khí, Bộ Công Thương Việt Nam và Cơ quan doanh nghiệp quốc tế Singapore, Bộ Thương mại quốc tế và Công nghiệp Singapore; (iii) MoU về hợp tác năng lượng tái tạo giữa Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo, Bộ Công Thương Việt Nam và Cơ quan doanh nghiệp quốc tế Singapore, Bộ Thương mại quốc tế và Công nghiệp Singapore; (iv) MoU về hợp tác trong lĩnh vực tiêu chuẩn hóa và đánh giá sự phù hợp giữa Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng, Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Cơ quan doanh nghiệp quốc tế Singapore, Bộ Thương mại quốc tế và Công nghiệp Singapore; (v) MoU về hợp tác và chia sẻ thông tin trong lĩnh vực thanh tra, giám sát ngân hàng giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Cơ quan quản lý tiền tệ Singapore và (vi) MoU về hợp tác đổi mới tài chính giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Cơ quan quản lý tiền tệ Singapore.

3. Hai Thủ tướng trao đổi sâu rộng về các vấn đề song phương, khu vực và quốc tế cùng quan tâm. Hai bên hoan nghênh những tiến triển thực chất trong quan hệ song phương kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973 và Đối tác chiến lược năm 2013. Đặc biệt, hai Thủ tướng đánh giá cao quan hệ tin cậy và hợp tác song phương thực chất trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, nâng cao năng lực, quốc phòng, an ninh, văn hóa và giao lưu nhân dân.

4. Hai bên tin tưởng quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước sẽ bước vào giai đoạn phát triển mới trong bối cảnh kinh tế mỗi nước và khu vực đang phát triển mạnh mẽ, Cộng đồng ASEAN, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã ký kết và nhiều thỏa thuận hợp tác khu vực khác đang hình thành.

5. Hai Thủ tướng tái khẳng định cam kết duy trì trao đổi đoàn cấp cao và các cấp trên tất cả các kênh Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và giao lưu nhân dân. Hai bên nhất trí tăng cường tham vấn, đối thoại nhằm trao đổi quan điểm, lập trường và sáng kiến về các vấn đề chiến lược.

6. Hai Thủ tướng hoan nghênh các hoạt động kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 5 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược; nhất trí tổ chức các hoạt động trong năm 2018 để thúc đẩy hợp tác chính trị, thương mại/kinh tế và giao lưu nhân dân nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau.

7. Hai Thủ tướng chia sẻ hợp tác đầu tư và thương mại là trụ cột quan trọng trong quan hệ song phương; đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi thông qua việc thực thi pháp luật và chính sách nhất quán của Chính phủ, tăng cường kết nối các doanh nghiệp và tạo điều kiện thúc đẩy giải quyết nhanh chóng các vướng mắc cho doanh nghiệp. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hoan nghênh Singapore là nhà đầu tư lớn thứ ba của Việt Nam và khuyến khích Singapore tăng cường đầu tư vào các lĩnh vực như cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, và các lĩnh vực khác như năng lượng (bao gồm khí hóa lỏng và năng lượng tái tạo), du lịch (bao gồm phát triển du lịch tàu biển, quản lý và quảng bá sản phẩm), cơ sở hạ tầng (bao gồm đường cao tốc và cảng biển), giải pháp đô thị, khoa học công nghệ, khu công nghệ cao, thành phố thông minh (trong các lĩnh vực về an ninh, an toàn công cộng, giao thông thông minh và cơ sở hạ tầng số) và nền kinh tế số (bao gồm liên kết giữa các doanh nghiệp khởi nghiệp Singapore và Việt Nam). Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc sẽ chứng kiến việc ký kết nhiều văn kiện hợp tác tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam ngày 26 tháng 4 năm 2018.

8. Hai bên đánh giá cao hợp tác thương mại giữa hai nước trong lĩnh vực nông sản, bao gồm rau, quả tươi, lâm thủy sản; đồng thời nhất trí ưu tiên đẩy mạnh thương mại, đầu tư và kết nối doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp. Hai Thủ tướng khuyến khích doanh nghiệp hai nước đưa ra các sáng kiến chung nhằm tăng cường hợp tác, khai thác thế mạnh của Singapore về công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm kinh doanh nông sản.

9. Hai bên ghi nhận bước phát triển tích cực trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng; thể hiện qua việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Cơ quan quản lý tiền tệ Singapore ký các Bản ghi nhớ về đổi mới tài chính và giám sát ngân hàng cũng như việc ngày càng nhiều ngân hàng Singapore hoạt động tại Việt Nam và doanh nghiệp Việt Nam niêm yết tại thị trường chứng khoán Singapore nhằm tiếp cận thị trường vốn của Singapore và nâng cao uy tín cho doanh nghiệp. Singapore tiếp tục hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực thông qua chia sẻ kinh nghiệm quản lý, giám sát tài chính và giám sát ổn định tài chính.

10. Hai Thủ tướng cam kết Cơ quan sở hữu trí tuệ Singapore tăng cường hợp tác với Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam khai thác thế mạnh về sáng tạo và sở hữu trí tuệ nhằm phục vụ phát triển kinh tế. Hai bên mở rộng hợp tác thương mại hóa sở hữu trí tuệ, chia sẻ ứng dụng các bằng sáng chế và đào tạo về sở hữu trí tuệ trên cơ sở Kế hoạch hành động 2018 nhằm triển khai Bản Ghi nhớ về hợp tác giữa cơ quan sở hữu trí tuệ hai nước.

11. Hai Thủ tướng nhất trí tích cực thúc đẩy liên kết doanh nghiệp và giao lưu nhân dân; cũng như khai thác tốt tiềm năng kết nối hàng không, tăng lượng khách và vận chuyển hàng hóa giữa hai nước và với nước khác; tiến tới tự do hóa Hiệp định hàng không. Hai bên nhất trí đẩy mạnh kết nối hơn nữa thông qua vận tải biển và logistics. Singapore cam kết đào tạo nhân viên hàng không dân dụng và hàng hải Việt Nam. Hai Thủ tướng hoan nghênh hai bên nghiên cứu mở đường bay thẳng giữa Singapore và Nha Trang.

12. Hai Thủ tướng ghi nhận những bước tiến đáng kể trong hợp tác quốc phòng và cam kết đẩy mạnh hợp tác thông qua các chuyến thăm cấp cao, cơ chế đối thoại chính sách quốc phòng, tiếp xúc song phương giữa quân đội hai nước, trao đổi sĩ quan trẻ và tàu hải quân thăm cảng.

13. Hai bên cam kết hợp tác chặt chẽ nhằm thúc đẩy cấu trúc an ninh khu vực thông qua đối thoại chiến lược tại Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+.) Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác thực tế thông qua các hoạt động của Nhóm chuyên gia ADMM+ như tổ chức hội thảo và diễn tập.

14. Hai Thủ tướng nhấn mạnh ý nghĩa của việc tăng cường hợp tác an ninh và tình báo chống khủng bố, chủ nghĩa cực đoan và tội phạm xuyên quốc gia, cũng như hợp tác chặt chẽ về các vấn đề liên quan đến an ninh mạng… Singapore sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực về quản lý di cư, cơ sở dữ liệu tội phạm và bảo mật.

15. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cảm ơn Singapore tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong phát triển nguồn nhân lực thông qua tổ chức các khóa đào tạo theo Thỏa thuận về Chương trình đào tạo chuyên đề cho cán bộ cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 2017-2019. Singapore tiếp tục khuyến khích các trung tâm giáo dục và nhà cung cấp dịch vụ tại Singapore tích cực tham gia các dự án phát triển giáo dục ở Việt Nam. Hai bên cam kết tích cực tăng cường hợp tác và liên kết giữa các trường dạy nghề và giao lưu giữa thanh, thiếu niên hai nước.

16. Hai Thủ tướng ghi nhận tầm quan trọng của việc bảo tồn và bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm cuộc sống của người dân. Hai bên nhất trí tiếp tục hợp tác giải quyết các thách thức khu vực và quốc tế, trong đó có các vấn đề xuyên quốc gia như ô nhiễm không khí và khói bụi, quản lý chất lượng nguồn nước, ô nhiễm biển và các vùng biển, biến đổi khí hậu. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận tiềm năng hợp tác to lớn giữa hai nước trong giải quyết các vấn đề môi trường như xử lý chất thải rắn và chất thải nguy hại, quản lý chất lượng không khí, nguồn nước và tiếng ồn. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định Việt Nam ủng hộ Singapore tổ chức Hội nghị Bộ trưởng ASEAN đặc biệt về khí hậu vào tháng 7/2018.

17. Hai Thủ tướng hài lòng về sự phối hợp chặt chẽ giữa hai nước tại các diễn đàn khu vực và quốc tế như ASEAN và các diễn đàn liên quan, APEC, ASEM và Liên hợp quốc. Thủ tướng Lý Hiển Long cảm ơn Việt Nam ủng hộ mạnh mẽ Singapore đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN 2018 nhằm xây dựng một ASEAN Tự cường và Sáng tạo.

18. Hai nước nhất trí duy trì tham vấn thường xuyên về các vấn đề khu vực và phối hợp chặt chẽ nhằm củng cố thống nhất, đoàn kết và vai trò trung tâm của ASEAN cũng như đảm bảo thực hiện hiệu quả Tầm nhìn ASEAN 2025.

19. Hai Thủ tướng khẳng định tầm quan trọng của duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giải quyết hòa bình các tranh chấp, tôn trọng đầy đủ các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó bao gồm Công ước về Luật Biển Liên Hợp Quốc 1982 (UNCLOS). Hai bên tái khẳng định ủng hộ thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu quả và ràng buộc.

20. Trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2018, Singapore khẳng định tiếp tục ủng hộ các nước Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam (CLMV) thu hẹp khoảng cách phát triển thông qua Chương trình hợp tác Singapore và Sáng kiến về Hội nhập ASEAN.

21. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cảm ơn sự đón tiếp nồng hậu mà phía Singapore đã dành cho cá nhân và đoàn và bày tỏ mong muốn đón Thủ tướng Lý Hiển Long và các lãnh đạo Singapore thăm Việt Nam vào thời gian thuận tiện./.

Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Đề xuất nâng tuổi hưu nam lên 65, nữ 60

Tại phiên họp Ủy ban Về các vấn đề xã hội ngày 23-4 thẩm tra các báo cáo của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Lao động, thương binh và xã hội Đào Ngọc Dung trình bày sơ bộ đề án cải cách bảo hiểm xã hội chuẩn bị trình Hội nghị Trung ương 7.

Ông Dung cho biết, tính đến cuối năm 2017 có 13,6 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Có khoảng 230.000 doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động, trong khi số liệu cơ quan thuế cung cấp thì cả nước có tới 600.000 doanh nghiệp đang hoạt động.

“Như vậy, còn trên 300.000 doanh nghiệp chưa tham gia bảo hiểm xã hội bắt buột, và theo ước đoán của chúng tôi thì có khoảng 3 triệu người chưa tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc” – Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nói.

Vẫn theo Bộ trưởng, số người tham gia bảo hiểm xã hội mới hiện nay tương đương với số lượng người nhận bảo hiểm xã hội một lần, tức là số vào tương đương với số ra.

“Không có nước nào mà chính sách bảo hiểm xã hội lại thoáng như vậy, đóng ít nhưng hưởng nhiều, đóng thời gian ngắn nhưng lại hưởng dài, ngoài hưởng phần mình đóng lại còn hưởng phần nhà nước hỗ trợ trong đó nữa. Người lao động đóng bảo hiểm xã hội rồi xin rút một lần, một thời gian sau có việc mới lại đóng và sau đó lại xin rút một lần” – ông phân tích.

Trong đề án trình Trung ương, cơ quan tham mưu của Ban Cán sự đảng Chính phủ đề xuất thiết kế chính sách bảo hiểm xã hội “phù hợp với thông lệ quốc tế, thiết kế chính sách công bằng, nếu người đóng bảo hiểm xã hội rút ra sớm thì chỉ được nhận phần do mình đóng thôi”.

Như vậy, người lao động có thể nhận lương hưu khi thời gian đóng thấp hơn mức quy định hiện tại, có thể dưới 20 năm, tất nhiên là chỉ được nhận bảo hiểm xã hội tương ứng với số tiền họ đóng.

“Chúng tôi thiết kế ba tầng, tầng thứ nhất là nhà nước đóng cho các đối tượng chính sách để họ hưởng lương hưu. Tầng thứ hai là bảo hiểm xã hội bắt buộc, giống như quy định hiện hành. Tầng thứ ba là bảo hiểm tự nguyện, người lao động đóng cao hưởng cao” – Bộ trưởng Dung cho hay.

Ông khẳng định, với các phương án trình Trung ương, nếu được đồng ý, phải sửa đổi hệ thống pháp luật hiện hành. Hy vọng với tư duy đổi mới trong thực hiện chính sách BHXH thì độ bao phủ của chính sách này sẽ rộng hơn.

Một trong những bất cập lớn hiện nay được Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết là vẫn có 66% số lao động vẫn nằm trong khu vực phi chính thức, nếu không giải được bài toán này thì rất khó đạt mục tiêu trên 50% người lao động tham gia bảo hiểm xã hội.

Ông nói: Hiện nay khó vận động người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, bởi điều kiện của người lao động trong khu vực phi chính thức vẫn khó khăn.

Hơn nữa, tỉ lệ hỗ trợ của nhà nước còn ít. Trong bảo hiểm y tế thì đối với khu vực nghèo, vùng sâu, bãi ngang, nhà nước đã hỗ trợ tới 46%, một số đối tượng được hỗ trợ toàn bộ bảo hiểm y tế; nếu bảo hiểm xã hội mà hỗ trợ tỷ lệ như vậy, cộng thêm với vận động con cái của họ hỗ trợ, giúp đỡ thì những người lao động ở khu vực nông thôn, vùng khó khăn mới có thể tham gia bảo hiểm xã hội để nhận lương hưu khi về già.

Về tuổi nghỉ hưu, đề án trình Trung ương đặt ra lộ trình để nâng tuổi nghỉ hưu của người lao động. “Tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, chúng tôi đề xuất lộ trình thực hiện để không gây sốc đối với người lao động” – Bộ trưởng khẳng định.

Theo đó, đề án trình hai phương án. Phương án một: nâng tuổi nghỉ hưu của lao động nữ lên 60 và nam lên 62, nhưng lộ trình mỗi năm chỉ nâng thêm 3 tháng.

Phương án hai: nữ nghỉ hưu ở tuổi 60 nhưng độ tuổi nghỉ hưu của nam được nâng lên 65, lộ trình mỗi năm chỉ điều chỉnh nâng thêm 4 tháng.

Được biết, Hội nghị Trung ương 7 sẽ họp vào đầu tháng 5 tới, trước khi Quốc hội khai mạc kỳ họp thứ 5 vào ngày 21-5.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Cách đơn giản để biết Công ty có đóng BHYT cho bạn hay không

Khoản 1 Điều 47 Quyết định 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định: “Không thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) đối với các trường hợp người tham gia đã báo giảm đóng BHYT nhưng tại thời điểm khám bệnh, chữa bệnh thẻ BHYT vẫn còn giá trị sử dụng”.

Mặt khác, theo Công văn 3340/BHXH-ST ngày 08/8/2017, trên thẻ BHYT chỉ in giá trị sử dụng của thẻ từ ngày …/…/… chứ không còn in ngày hết hạn sử dụng (đối với thẻ BHYT đã cấp mà chưa được đổi, cấp lại theo mẫu mới vẫn có giá trị sử dụng đến khi được đổi, cấp lại).
Như vậy, mong muốn biết được Công ty có đóng BHYT cho mình hay không là nhu cầu chính đáng của người lao động. Nay, chúng tôi xin hướng dẫn quý thành viên tra cứu giá trị sử dụng thẻ BHYT của mình, cụ thể như sau:

Bước 1: Truy cập vào địa chỉ www.baohiemxahoi.gov.vn/tracuu/pages/tra-cuu-thoi-han-su-dung-the-bhyt.aspx

Bước 2: Nhập thông tin thẻ BHYT

– Mã thẻ

– Ngày/Năm sinh

– Họ tên (Nhập đầy đủ họ và tên)

– Mã xác thực

Bước 3: Click vào tra cứu

Categories
Khác Tin tức trong nước

Tiền lương, thưởng với cán bộ, công chức trong dịp Lễ sắp tới

Chị Nguyễn Hải Thu Anh có hỏi: “Trong dịp Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4 và 01/5/2018 thì tiền lương, thưởng với công chức nhà nước được tính như thế nào? Có cao hơn năm 2017 hay không?”.

Để phần nào giúp quý thành viên hiểu rõ về vấn đề tiền lương, thưởng của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động (sau đây gọi gọn là người lao động) trong dịp Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4 và 01/5/2018, THƯ VIỆN PHÁP LUẬT xin chi sẻ như sau:

1. Tiền lương ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4 và 01/5/2018

Theo quy định của Bộ luật Lao động 2012 thì Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4 và 01/5/2018 người lao động được nghỉ và hưởng 100% lương (Điểm đ Khoản 1 Điều 115).

Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 97 của Bộ luật Lao động 2012, nếu người lao động làm việc vào ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4 và 01/5/2018 sẽ được hưởng thêm 300% tiền lương (tổng cộng là 400% lương).

Đối với trường hợp người lao động làm thêm vào ban đêm vào ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4 và 01/5/2018 sẽ được hưởng thêm 90% tiền lương của ngày bình thường (Tổng tiền lương được hưởng là 490% tiền lương của ngày bình thường). Xem chi tiết phần hướng dẫn cách tính trong trường hợp này tại Thông tư 23/2015/TT-BLĐTBXH.

Lưu ý: Mức tiền lương này là mức thấp nhất mà người sử dụng lao động trả cho người lao động. Như vậy, khuyến khích người sử dụng lao động trả mức lương cao hơn cho người lao động.

Mức lương cơ sở và mức lương tối thiểu vùng năm nay cao hơn năm 2017. Như vậy, tiền lương ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4 và 01/5/2018 của nhiều đối tượng cũng được điều chỉnh tăng cho phù hợp với quy định.

2. Tiền thưởng ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4 và 01/5/2018

Vấn đề này, được Bộ luật Lao động 2012 quy định tại Điều 103, cụ thể:

1. Tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm và mức độ hoàn thành công việc của người lao động.

2. Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở”

Như vậy, tiền thưởng dịp Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4 và 01/5/2018 của người lao động là không bắt buộc (chỉ mang tính khuyến khích) và do người sử dụng lao động quyết định.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Quy định về điều kiện tách thửa đất

Nếu diện tích tách thửa dưới 30 mét thì không đảm bảo diện tích tối thiểu để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Quyết định số 19/2012/QĐ-UBND ngày 8/8/2012 của UBND Hà Nội, điều kiện tách thửa đất bao gồm:

a) Có chiều rộng mặt tiền và chiều sâu so với chỉ giới xây dựng (đường giới hạn cho phép xây dựng công trình trên thửa đất) từ 3 mét trở lên;

b) Có diện tích không nhỏ hơn 30 m2.

Từ thời điểm ngày 10/4/2009, nếu diện tích được tách thửa dưới 30 mét thì không đảm bảo diện tích tối thiểu để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Diện tích bạn muốn được cấp giấy chứng nhận chỉ có 25m2 là không đảm bảo điều kiện theo quy định trên nhưng diện tích này đã được xác định theo bản án của tòa án từ năm 2007. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 6, Điều 1 Quyết định số 19/2012/QĐ-UBND, Hà Nội cho phép: “Thửa đất đang sử dụng được hình thành từ trước ngày 10/4/2009 (ngày Quyết định số 58/2009/QĐ-UBND của UBND thành phố có hiệu lực thi hành) có diện tích, kích thước nhỏ hơn mức tối thiểu quy định tại khoản 1 điều này, nhưng đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận thì người đang sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận”.

Như vậy, dù diện tích bạn đang làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận chỉ có 25m2 nhưng diện tích này đã được xác định theo bản án của tòa từ năm 2007 tức là trước ngày 10/4/2009. Do đó nếu đảm bảo được điều kiện cấp, người đang sử dụng có thể được cấp giấy chứng nhận.

Điều kiện để được cấp giấy chứng nhận theo quy định tại Điều 50 Luật Đất đai bao gồm:

a) Đất đang được sử dụng ổn định;

b) Có sự xác nhận của chính quyền địa phương không có tranh chấp;

c) Có một trong những giấy tờ sau theo quy định tại điều 50 bao gồm: “Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân”

Trường hợp của bạn, diện tích bạn đang làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đã được sử dụng ổn định, nếu có xác định không tranh chấp của chính quyền địa phương thì diện tích này đáp ứng được các điều kiện trên do đó có thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Con nuôi được hưởng thừa kế như con đẻ

Theo Điều 675 Bộ luật Dân sự, trong trường hợp người để lại di sản thừa kế mất mà không để lại di chúc, việc chia di sản cho những người thừa kế sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Căn cứ Điều 676, những người thừa kế thuộc hàng thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Dựa trên nguyên tắc không phân biệt đối xử trong quan hệ hôn nhân và gia đình, pháp luật quy định những người thừa kế cùng hàng thừa kế sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau mà không phân biệt con đẻ, con nuôi.

Như vậy, kể cả khi chỉ là con nuôi, bạn có quyền hưởng phần di sản thừa kế do bố mẹ nuôi để lại ngang với các con đẻ của bố mẹ nuôi. Tuy nhiên, quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chỉ được xác lập khi:

– Tại thời điểm nhận nuôi con nuôi, việc nuôi con nuôi được đăng ký tại UBND xã, phường, thị trấn nơi thường trú của cha mẹ nuôi hoặc con nuôi;

– Trường hợp việc nuôi con nuôi đã phát sinh trên thực tế mà chưa đăng ký trước ngày 1/1/2011, nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật nuôi con nuôi thì được đăng ký kể từ ngày 1/1/2011 đến hết ngày 31/12/2015 tại UBND cấp xã nơi thường trú của cha mẹ nuôi và con nuôi (căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi).

Khoản 1 Điều 50 quy định điều kiện gồm:

  1. Các bên có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi;
  2. Đến thời điểm Luật này có hiệu lực, quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang tồn tại và cả hai bên còn sống;
  3. Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con.

Như vậy, nếu việc nuôi con nuôi giữa bạn và bố mẹ nuôi của bạn đã được đăng ký theo quy định nêu trên thì quan hệ nuôi con nuôi được xác lập. Do đó bạn có quyền hưởng phần di sản thừa kế do bố mẹ nuôi để lại và ngược lại.

Bạn cũng cần lưu ý rằng, ngay cả trong trường hợp mẹ nuôi đã hoàn tất thủ tục đăng ký nuôi con nuôi trước khi kết hôn, nhưng sau khi kết hôn chồng của mẹ nuôi bạn (tức là bố nuôi) không làm thủ tục đăng ký nuôi con nuôi với bạn thì quan hệ con nuôi giữa bạn và bố nuôi không được xác lập. Hay nói cách khác, việc kết hôn của mẹ nuôi không nghiễm nhiên làm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi giữa bạn và chồng của mẹ nuôi anh.

Do vậy, khi bố mẹ nuôi bạn mất đi mà không để lại di chúc, bạn chỉ có quyền hưởng phần di sản thừa kế do mẹ nuôi để lại mà không được quyền hưởng phần di sản thừa kế của bố nuôi.

Categories
Khác Tin tức trong nước

Luật quy tài sản trộm cắp ra tiền làm căn cứ truy tố

Nếu định giá theo thời điểm bị can bị bắt hoặc theo thời điểm xét xử, rất có thể do sự trượt giá mà hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo có thể bị xử nhẹ hơn hoặc nặng hơn so với thời điểm phạm tội.

Trong các vụ án về trộm cắp tài sản, tài sản bị trộm cắp rất đa dạng, có thể là tiền, vàng, trang sức, đồ vật, phương tiện… Do vậy luật pháp không thể quy định cụ thể, chi tiết trộm cắp cái gì thì chịu hình phạt bao nhiêu.

Pháp luật cũng không thể quy định bị cáo trộm cái gì phải bồi thường cái đó cho người bị hại (chủ tài sản) do nhiều trường hợp tài sản trộm cắp là vật đặc định, đơn chiếc.

Vì lẽ đó, Bộ luật Hình sự quy định về tội trộm cắp tài sản theo hướng tài sản bị trộm cắp được định giá quy ra tiền đồng để làm căn cứ truy tố, xét xử bị can, bị cáo và bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại số tiền tương đương giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt.

 

Cụ thể, điều 138 Bộ luật Hình sự về tội Trộm cắp tài sản, người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm…”

Do việc truy tố, xét xử các vụ án trộm cắp tài sản dựa trên kết quả định giá nên việc định giá phải được thực hiện một cách trung thực, khách quan, công khai và kịp thời.

Về thời điểm định giá giá trị tài sản bị trộm cắp, theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 26/2005/NĐ-CP ngày 2/3/2005 về Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, việc định giá tài sản phải dựa trên các căn cứ sau đây:

– Giá phổ biến trên thị trường tại thời điểm và nơi tài sản bị xâm phạm;

– Giá do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định;

– Giá trên tài liệu, hồ sơ kèm theo tài sản cần định giá, nếu có;

– Giá trị thực tế của tài sản cần định giá;

– Các căn cứ khác về giá trị của tài sản cần định giá.

Như vậy, việc định giá phải tuân theo nguyên tắc hành vi trộm cắp được thực hiện vào thời điểm nào thì tài sản trộm cắp phải được định giá theo thời điểm đó. Nếu định giá theo thời điểm bị can bị bắt hoặc theo thời điểm xét xử, rất có thể do sự trượt giá mà hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo có thể bị xử nhẹ hơn hoặc nặng hơn so với thời điểm phạm tội.

Từ các quy định mà chúng tôi vừa viện dẫn và phân tích thì việc tòa án tuyên bị cáo phải bồi thường cho bạn số tiền tương đương 10 cây vàng theo giá trị thời điểm mất trộm là phù hợp với các quy định của pháp luật về hình sự.