Categories
Kiến thức pháp luật Nghiên cứu và bình luận

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự là gì? Ai là người xác định tính hợp pháp của chứng cứ điện tử; và những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn sẽ được đề cập đến trong bài biết dưới đây


Theo Điều 93 BLTTDS năm 2015 quy định: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân và cơ quan, tổ chức cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án dùng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”.

Trong Luật Giao dịch điện tử thì quy định về giá trị chứng cứ của thông điệp được giải thích tại khoản 1, 2 Điều 14 như sau: “Thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị dùng làm chứng cứ chỉ vì đó là một thông điệp dữ liệu.

Giá trị chứng cứ của thông điệp dữ liệu được xác định căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi thông điệp dữ liệu; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác”.

Như vậy, Luật Giao dịch điện tử công nhận giá trị pháp lý như văn bản của thông điệp dữ liệu chứ không đưa ra khái niệm về chứng cứ điện tử nên khi thu thập, đánh giá chứng cứ cần sự vận dụng nhiều quy phạm trong các điều luật, luật khác nhau để xác định tính hợp pháp của chứng cứ điện tử.

Từ những phân tích nêu trên, có thể tóm tắt khái niệm về chứng cứ điện tử như sau:

“Chứng cứ điện tử là thông điệp dữ liệu được khởi tạo, lưu trữ, truyền tải, nghe, nhìn được bằng phương tiện điện tử và đảm bảo các yêu cầu của pháp luật về cách thức khởi tạo và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu cũng như các yếu tố phù hợp khác. Chứng cứ điện tử do các chủ thể tham gia quan hệ thương mại điện tử lưu giữ, thu thập cung cấp cho Tòa án hoặc do Tòa án, cơ quan có thẩm quyền thu thập nhằm chứng minh cho các yêu cầu của các chủ thể này khi giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại bằng các phương thức khác nhau trong đó có phương thức giải quyết bằng các thủ tục tố tụng”.

Sử dụng, đánh giá chứng cứ điện tử trong thực tiễn

Trong thực tế, Tòa án đã xét xử một số vụ án kinh doanh thương mại mà một phần quá trình chào hàng, đề nghị giao kết hợp đồng và các thỏa thuận phát sinh được thực hiện bằng phương tiện điện tử.

Ví dụ: Công ty TNHH AQ có trụ sở tại tỉnh TH, có nhận được thư mời hợp tác của một Công ty Liên doanh giữa Việt Nam và Hàn Quốc có tên là Công ty HN. Công ty này có trụ sở tại quận LB, thành phố Hà Nội chuyên sản xuất các mặt hàng điện tử gia dụng thông qua hộp thư điện tử. Sau khi nhận được thư chào hàng, hai bên đã trao đổi các nội dung của hợp đồng như giá cả, phương thức thanh toán, địa điểm giao hàng, phương thức giao nhận hàng hóa, điều kiện bảo hành sản phẩm, tất cả các thông tin này đều được trao đổi qua email của hai Pháp nhân, tuy nhiên địa chỉ email không được ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của pháp nhân Việt Nam là Công ty TNHH AQ và Chứng nhận đầu tư của pháp nhân nước ngoài là Công ty Liên doanh HN.

Sau khi đã đạt được các thỏa thuận, hai bên đã giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa số 09/2009/HĐMBHH/HN-AQ ngày 24/7/2009. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, hai bên đều thực hiện việc bán hàng hóa và thanh toán bảo hành theo như hợp đồng đã ký kết, tuy nhiên các thông tin về thanh toán, bảo hành sản phẩm, giao nhận hàng đều thực hiện thông qua điện thoại, tin nhắn, thư điện tử và thông qua nhân viên kinh doanh của cả hai doanh nghiệp.

Hợp đồng được thực hiện trong thời gian khá dài, do thị trường hàng điện tử gia dụng bị thu hẹp, việc sản xuất kinh doanh không có lợi nhuận, phía Công ty Liên doanh HN chuyển đổi ngành nghề kinh doanh và phía nước ngoài thoái vốn tại Liên doanh dưới hình thức chuyển nhượng phần vốn cho phía đối tác Việt Nam là Công ty điện tử HN. Sau khi thông báo ngừng cung cấp hàng hóa dịch vụ theo hợp đồng số 09/2009/HĐMB/HN-AQ, hai bên đã tiến hành thanh lý hợp đồng này và chốt công nợ, theo đó Công ty TNHH AQ còn nợ Công ty Liên doanh HN số tiền 8.980.000.000 VND (Tám tỷ chín trăm tám mươi triệu đồng) với thời gian thực hiện thanh toán là 01 năm. Trong thời hạn này, phía Công ty TNHH AQ tại TH đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo cam kết và đưa ra lý do chưa nhận đủ hàng hóa, các giấy tờ giao nhận không do người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH AQ ký…

Do có tranh chấp, Công ty Liên doanh HN đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân (TAND) thành phố TH và được thụ lý giải quyết, trong quá trình giải quyết vụ án, phía nguyên đơn đã sao lục và cung cấp cho Tòa án những chứng cứ điện tử như email, tin nhắn, danh sách các cuộc gọi điện thoại, bản sao kê thanh toán qua Ngân hàng.

Phía bị đơn thì cho rằng họ không nhận được các thông tin trao đổi qua hộp thư điện tử, các số máy điện thoại không phải của người đại diện theo pháp luật hay các văn bản ủy quyền hợp lệ, không chấp nhận các tập quán thương mại mà hai bên đã thực hiện vì không có thỏa thuận.

Để giải quyết vụ án một cách toàn diện, đầy đủ, TAND thành phố TH đã tiến hành thu thập và kiểm tra tính xác thực của các chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp, tuy nhiên do thời gian thực hiện hợp đồng tương đối dài, các máy chủ không đặt tại Việt Nam cũng như một bên không cung cấp nên các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp đều không được chấp nhận.

Ngày 20/5/2014, TAND thành phố TH đã tiến hành xét xử và ra bản án bác yêu cầu khởi kiện của Công ty Liên doanh HN.

Từ thực tiễn trên đã cho thấy một số vấn đề phát sinh trong việc giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại được thực hiện một phần bằng phương tiện điện tử như:

Thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ án

Trong vụ án trên thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết sẽ căn cứ vào BLTTDS xác định Tòa án nơi cư trú của bị đơn để giải quyết, tranh chấp được xác định là tranh chấp hợp đồng giữa hai pháp nhân (quan hệ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp viết tắt là B2B). Tuy nhiên, nếu các quan hệ thương mại điện tử theo mô hình doanh nghiệp với người tiêu dùng (viết tắt là B2C), hay người tiêu dùng với doanh nghiệp (viết tắt là C2B) thì việc xác định thẩm quyền như trong các quy định của BLTTDS sẽ gặp nhiều khó khăn khi xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, đặc biệt là thẩm quyền trong việc dưa ra yêu cầu ủy thác tư pháp (chỉ TAND cấp tỉnh mới có thẩm quyền giải quyết các vụ án có yếu tố nước ngoài), thực tiễn cho thấy việc sử dụng các phương tiện điện tử có thể được thực hiện không giới hạn về không gian, hay nói chính xác là thực hiện ở bất kỳ địa điểm nào trên thế giới, đây cũng là một thực tiễn sinh động khi xác định thẩm quyền để giải quyết các tranh chấp liên quan.

Thủ tục, điều kiện để thụ lý vụ án

Ngoại trừ các điều kiện về chủ thể hay giấy tờ chứng minh về nhân thân hay tư cách của pháp nhân khởi kiện. Trên thực tế, có rất ít các vụ án được Tòa án thụ lý mà chỉ sử dụng các chứng cứ điện tử, thông thường nó được thể hiện dưới dạng văn bản viết được xác nhận của cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án mới thụ lý, sau đó xác minh theo yêu cầu của các đương sự nhằm chứng minh cho yêu cầu của họ. Còn theo các thủ tục tố tụng thì khi chưa thụ lý, Tòa án hay các đương sự không thể tự mình hay theo yêu cầu mà thu thập chứng cứ trên nguyên tắc của BLTTDS đó là: “Nghĩa vụ chứng minh thuộc về các đương sự”.

Như vậy, nếu chỉ có các chứng cứ điện tử liên quan đến hành vi mua bán hàng hóa dịch vụ bị tranh chấp thì người có giả thiết có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại rất khó để khởi kiện với tư cách nguyên đơn dân sự. Khi vụ án chưa được thụ lý giải quyết thì yêu cầu phản tố của bị đơn hay yêu cầu độc lập của người có quyền và nghĩa vụ liên quan cũng không được xem xét giải quyết.

Về thu thập và đánh giá chứng cứ

Về mặt bản chất thì các chứng cứ điện tử có giá trị tương đương thuộc tính đối với văn bản, các nguyên tắc này được quy định trong Luật Giao dịch điện tử(1), Luật Thương mại (2), Nghị định về Thương mại điện tử(3) cũng như các văn bản có liên quan nhưng trên thực tế thì giá trị pháp lý và nguyên tắc tương đương thuộc tính vẫn còn nhiều khó khăn khi áp dụng các chứng cứ điện tử. Do quy định mang tính nguyên tắc, tức là có ý nghĩa trong việc áp dụng pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong việc quản lý nhà nước cũng như áp dụng để giải quyết tranh chấp nhưng không có các văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền như Ủy ban Thường vụ Quốc Hội hay Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc không được quy định cụ thể trong BLTTDS thì sẽ không thể giải quyết các tranh chấp thương mại được thực hiện bằng phương tiện điện tử.

Mặc dù, luật quy định rằng “Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được” nhưng không có các quy định cụ thể về hình thức vật chất chứa đựng chứng cứ điện tử, trình tự thu thập, xác minh chứng cứ cũng như hướng dẫn các trình tự thủ tục tố tụng chuyên biệt để thụ lý giải quyết các tranh chấp thương mại có các chứng cứ điện tử.

Với đặc điểm là thương mại điện tử có mức độ ảnh hưởng rộng lớn, tiếp cận mang tính phổ biến, các vụ việc mang tính chất tương tự xảy ra với nhiều người, nhiều tổ chức, ở nhiều địa phương nên nếu chỉ căn cứ vào giá trị tranh chấp hay quy định cứng về thẩm quyền giải quyết thì sẽ khó giải quyết. Thông thường, để thu thập một chứng cứ quan trọng trên máy tính, người tiêu dùng phải sử dụng dịch vụ Thừa phát lại để lập Vi bằng xác nhận tính xác thực của các nội dung hợp đồng điện tử đã giao kết, theo quy định thì giá ngạch của một dịch vụ có mức tối thiểu nhiều triệu đồng trong khi giá trị tranh chấp chỉ có thể bằng hoặc có khi thấp hơn thì rõ ràng bên bán hàng hóa, dịch vụ đã né tránh trách nhiệm của mình vì không lo sợ bị khởi kiện ra Tòa án. Trong thực tiễn giải quyết các vụ án thương mại có những chứng cứ điện tử thì đường lối xét xử vẫn ưu tiên các chứng cứ vật chất dễ chứng minh như: Văn bản, hợp đồng có chứng thực, công chứng… Còn các chứng cứ điện tử được xem xét mang tính hỗ trợ cho các chứng cứ khác nếu phù hợp mà rất hiếm khi được sử dụng độc lập. Pháp luật về thương mại điện tử cũng quy định các nguyên tắc về việc các chủ thể tham gia thương mại điện tử có quyền tự lựa chọn loại phương tiện điện tử, phương thức thực hiện và tự thỏa thuận về loại công nghệ để sử dụng trong mua bán hàng hóa dịch vụ, đồng thời nguyên tắc không một loại công nghệ nào là duy nhất trong thương mại điện tử nên các cá nhân tổ chức hoàn toàn có thể chỉ có các chứng cứ điện tử để chứng minh cho yêu cầu của mình. Việc Tòa án không chấp nhận các chứng cứ điện tử có tính độc lập và có giá trị pháp lý như văn bản viết hoặc các chứng cứ khác sẽ làm ảnh hưởng tới quyền của các cá nhân, tổ chức khi có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, đồng thời nguyên tắc của BLTTDS cũng không được tôn trọng trong thực tiễn.

Kiến nghị hoàn thiện

Hoàn thiện pháp luật về tố tụng dân sự về chứng cứ điện tử và các phương thức giải quyết

Với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử hiện nay, nhu cầu giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể tham gia hoạt động thương mại được thực hiện bằng phương tiện điện tử sẽ gia tăng tương ứng. Vì vậy, để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức tham gia quan hệ pháp luật thương mại điện tử là cần thiết và cần có các quy định chuyên biệt. Hiện nay, trong BLTTDS không có các quy định riêng về các trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối với thương mại điện tử, không có các quy định về việc thu thập, lưu giữ chứng cứ điện tử nên dẫn đến không thể giải quyết được các tranh chấp phát sinh, không bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia hoạt động thương mại điện tử.

Pháp luật tố tụng dân sự cũng cần quy định về thủ tục rút gọn thời gian giải quyết đối với các vụ án kinh doanh thương mại có sử dụng một phần hay toàn bộ bằng phương tiện điện tử để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Đồng thời BLTTDS phải bổ sung các quy định về thu thập chứng cứ điện tử để đảm bảo tính xác thực, tính hợp pháp để chứng minh cho các yêu cầu của các đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp.

Một yêu cầu nữa là các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động thương mại điện tử cần quy định về thiết kế kỹ thuật đối với giao diện của các website bán hàng trực tuyến. Sàn giao dịch điện tử phải ghi rõ các phương thức giải quyết tranh chấp để người tiêu dùng lựa chọn ngay từ khi giao kết hợp đồng.

Ngoài ra, để đảm bảo cho việc giải quyết các tranh chấp giữa các bên trong quan hệ thương mại điện tử, cần thiết phải ban hành văn bản hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối với các vụ án liên quan đến hoạt động này, trình tự, thủ tục thu thập lưu giữ chứng cứ điện tử và giải thích một cách thống nhất hay án lệ đối với các vụ án kinh doanh thương mại được thực hiện bằng phương tiện điện tử. Việc mở rộng thẩm quyền giải quyết các vụ án liên quan đến hoạt động thương mại điện tử sẽ tiết kiệm thời gian, chi phí cho các cá nhân, tổ chức tham gia quan hệ này, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng cũng như các chủ thể khác một cách kịp thời, nhanh chóng.

Nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng của những người tiến hành tố tụng

Để giải quyết các tranh chấp các vụ án phát sinh trong lĩnh vực thương mại điện tử như mua bán hàng hóa, dịch vụ, mà các bên tranh chấp sử dụng phương tiện điện tử, đồng nghĩa với việc sẽ dùng chứng cứ điện tử để chứng minh cho yêu cầu của mình thì những người tiến hành tố tụng phải có trình độ hiểu biết về công nghệ thông tin viễn thông tương ứng. Việc thu thập, xác minh, đánh giá chứng cứ điện tử đòi hỏi người tiến hành tố tụng phải am hiểu và biết cách sử dụng các kỹ năng cần thiết mới có thể thu thập được đầy đủ, khách quan, toàn diện các chứng cứ để giải quyết vụ án. Để nâng cao trình độ về tin học cũng như kỹ năng sử dụng các phương tiện điện tử của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên và Thư ký Tòa án thì cần có các chương trình đào tạo phù hợp, tập huấn, hội thảo thường xuyên mới đáp ứng được các yêu cầu này.

Ngoài ra, cần có chính sách đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đầy đủ và phù hợp để đáp ứng các yêu cầu giải quyết tranh chấp các vụ án liên quan đến thương mại điện tử và có sử dụng các chứng cứ điện tử.

Khi đáp ứng được các yêu cầu trên thì việc giải quyết các vụ án sẽ nhanh chóng, kịp thời, tiết kiệm chi phí của các chủ thể liên quan và tiết kiệm chi phí xã hội, đáp ứng được nhu cầu của xã hội.

(Ls. Lê Văn Thiệp/ TCKS số 5/2016)

Categories
Kiến thức pháp luật Nghiên cứu và bình luận

Dấu hiệu định lượng thiệt hại của các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin

Dấu hiệu định lượng thiệt hại lần đầu tiên được quy định trong các điều luật quy định các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông trong Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015. Căn cứ theo mức độ phản ánh khác nhau, dấu hiệu định lượng thiệt hại được chia thành dấu hiệu định lượng thiệt hại định tội và dấu hiệu định lượng thiệt hại định khung tăng nặng.

 

Căn cứ theo loại thiệt hại, dấu hiệu định lượng thiệt hại được phân làm 5 loại khác nhau, gồm:
(1) Hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
(2) An toàn thông tin, dữ liệu mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử;
(3) Số lượng người dùng, phương tiện điện tử bị ảnh hưởng;
(4) Lợi ích vật chất bị hủy hoại, hư hỏng, mất mát;
(5) Lợi ích bất chính mà người phạm tội thu được.

Cơ sở lý luận

Hậu quả của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông là thiệt hại gây ra cho quan hệ xã hội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Thiệt hại được thể hiện thông qua sự biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm. Trong khi đó, đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm bị hành vi phạm tội tác động và qua đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Về mặt lý luận, bộ phận của khách thể bị tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông tác động có thể là chủ thể của quan hệ xã hội, nội dung của quan hệ xã hội và đối tượng của quan hệ xã hội. Đối tượng tác động của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông ở Việt Nam gồm:

(1) Hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông xâm hại khách thể bảo vệ của loại tội phạm này bằng cách làm biến đổi hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân: Cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức hoặc biến dạng xử sự bình thường của người khác. Ví dụ, hành vi ngăn chặn trái phép việc truyền tải dữ liệu của mạng máy tính làm đình trệ hoạt động của cơ quan, tổ chức từ 24 giờ đến 72 giờ (Điều 287) là hành vi cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức; hành vi đưa lên mạng máy tính những thông tin trái quy định của pháp luật xâm phạm bí mật thông tin cá nhân dẫn đến người bị xâm phạm tự sát (Điều 288) là hành vi làm biến dạng xử sự bình thường của con người.


(Ảnh minh họa)

(2) Đối tượng của quan hệ xã hội là những sự vật hoặc lợi ích mà qua đó quan hệ xã hội phát sinh và tồn tại. Đối tượng của quan hệ xã hội bị tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông xâm hại, làm thay đổi bao gồm:

– An toàn thông tin, dữ liệu, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử: Theo khoản 1 Điều 3 Luật An toàn thông tin mạng, an toàn thông tin mạng là sự bảo vệ thông tin, hệ thống thông tin trên mạng tránh bị truy nhập, sử dụng, tiết lộ, gián đoạn, sửa đổi hoặc phá hoại trái phép nhằm bảo đảm tính nguyên vẹn, tính bảo mật và tính khả dụng của thông tin. Hậu quả của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông sẽ làm mất an toàn thông tin mạng, dẫn đến một trong ba thuộc tính sau đây của an toàn thông tin mạng bị xâm hại, gồm: Tính nguyên vẹn, tính bảo mật, tính khả dụng.

+ Tính nguyên vẹn: Thông tin mạng phải đảm bảo tính chính xác so với nguyên gốc được tạo ra trong quá trình lưu giữ, khai thác, sử dụng. Hậu quả của tội phạm làm thông tin, dữ liệu mạng bị hủy hoại, thay đổi thêm bớt, giả mạo…

+ Tính bảo mật: Thông tin mạng phải được bảo mật, chỉ người có quyền hợp pháp mới được truy cập vào, khai thác, sử dụng, công bố… Hậu quả của tội phạm gây ra khi thông tin mạng bị truy cập, khai thác, sử dụng, công bố bất hợp pháp (cho dù dữ liệu đó không bị hủy hoại, thay đổi).

+ Tính khả dụng: Khả năng sẵn sàng để khai thác, sử dụng của thông tin mạng. Hậu quả của tội phạm làm cho thông tin mạng không sử dụng được bình thường hoặc bị gián đoạn khi sử dụng.

– Lợi ích vật chất bị hủy hoại, hư hỏng, mất mát do hành vi phạm tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông gây ra.

– Lợi ích bất chính mà người phạm tội thu được thông qua việc phạm tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông.

Dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông có thể mô tả bằng định tính hoặc định lượng. Mô tả định tính là mô tả về tính chất nguy hiểm hoặc nghiêm trọng của hậu quả đó. Mô tả định lượng là mô tả hậu quả của tội phạm bằng các con số cụ thể. Việc quy định về thiệt hại gây ra cho khách thể dẫn đến sự biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động thể hiện qua mô tả các dấu hiệu phản ánh hậu quả của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Các dấu hiệu định lượng thiệt hại quy định trong các điều luật về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông gồm:

(1) Hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân: Thiệt hại về hoạt động bình thường được định lượng bằng đơn vị thời gian bị ngừng, gián đoạn hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức do tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông gây ra. Ví dụ: Làm đình trệ hoạt động của cơ quan, tổ chức từ 24 giờ đến 72 giờ (điểm d khoản 1 Điều 287 BLHS). Thiệt hại về hoạt động bình thường của cá nhân được xác định thông qua sự biến dạng xử sự của cá nhân như hành vi tự sát của nạn nhân (điểm đ khoản 2 Điều 288 BLHS).

(2) An toàn thông tin, dữ liệu mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử, gồm các loại dấu hiệu:

– Dấu hiệu phản ánh hậu quả tính bảo mật của thông tin mạng bị xâm hại: Thể hiện qua số lượng thông tin, dữ liệu bị công bố bất hợp pháp. Ví dụ: Công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng từ 20 tài khoản đến dưới 50 tài khoản (khoản 1 Điều 291 BLHS).

– Dấu hiệu phản ánh tính khả dụng của thông tin mạng bị xâm hại. Dấu hiệu loại này có thể định lượng theo đơn vị thời gian bị xâm hại. Ví dụ: Làm tê liệt, gián đoạn, ngưng trệ hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử từ 30 phút đến 24 giờ (điểm c khoản 1 Điều 287). Hoặc định lượng theo số lần bị tê liệt, gián đoạn, ngưng trệ trong một thời gian nhất định. Ví dụ: Làm tê liệt, gián đoạn, ngưng trệ hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử từ 3 lần đến dưới 10 lần trong thời gian 24 giờ (điểm c khoản 1 Điều 287 BLHS).

(3) Số lượng người dùng, phương tiện điện tử bị ảnh hưởng được phản ánh thông qua số lượng thực tế máy tính, phương tiện điện tử bị ảnh hưởng do hành vi phạm tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông gây ra. Ví dụ: Làm lây nhiễm từ 50 phương tiện điện tử đến dưới 200 phương tiện điện tử (điểm c khoản 1 Điều 286 BLHS). Dấu hiệu này cũng có thể được định lượng thông qua số người sử dụng phương tiện điện tử bị ảnh hưởng. Ví dụ: Làm lây nhiễm hệ thống thông tin có từ 50 đến dưới 200 người sử dụng (điểm c khoản 1 Điều 286 BLHS).

(4) Lợi ích vật chất bị hủy hoại, hư hỏng, mất mát phản ánh thông qua giá trị bằng tiền những hư hỏng, hủy hoại, mất mát do tội phạm gây ra như: Gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng (điểm b khoản 1 Điều 286 BLHS).

(5) Lợi ích bất chính mà người phạm tội thu được được định lượng bằng tiền đối với mọi lợi ích bất chính mà người phạm tội có được do phạm tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Ví dụ: Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng (điểm a khoản 1 Điều 286 BLHS).

(ảnh minh họa)

Cơ sở thực tiễn

Việc quy định các dấu hiệu thiệt hại trong các tội phạm thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông xuất phát từ nhu cầu thống nhất về nhận thức và áp dụng các quy định về dấu hiệu định tội và định khung hình phạt để xác định tội phạm và khung hình phạt, đối với những cấu thành tội phạm mô tả định tính thiệt hại do tội phạm gây ra.

Các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông được quy định trong BLHS năm 1999 không quy định dấu hiệu định lượng thiệt hại. Thông tư liên tịch số 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTT&TT-VKSNDTC-TANDTC ngày 10/9/2012 của liên ngành Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Thông tin và Truyền thông, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về một số tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, trong đó hướng dẫn định lượng thiệt hại do các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông gây ra được quy thành tiền Việt Nam đồng:

– Dấu hiệu hậu quả gây thiệt hại: Thiệt hại nghiêm trọng là gây thiệt hại từ 50 đến dưới 200 triệu đồng; rất nghiêm trọng là gây thiệt hại từ 200 đến dưới 500 triệu đồng; đặc biệt nghiêm trọng là gây thiệt hại từ 500 triệu đồng trở lên.

– Dấu hiệu thu lợi bất chính: Thu lợi bất chính lớn là thu lợi bất chính từ 20 đến dưới 100 triệu đồng; rất lớn hoặc đặc biệt lớn là thu lợi từ 100 triệu đồng trở lên.

Như vậy, hướng dẫn trên đơn giản, đa số các thiệt hại đều được quy thành tiền, trong khi hậu quả của tội phạm rất đa dạng, không phải trường hợp nào cũng quy được thành tiền, dẫn đến nhiều bất cập khi áp dụng trong các tội phạm này.

Dấu hiệu định lượng thiệt hại của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông

Căn cứ các tiêu chí phân loại khác nhau, dấu hiệu định lượng thiệt hại của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông theo BLHS năm 2015 được chia thành các nhóm khác khau.

Theo mức độ phản ánh hậu quả của tội phạm: Căn cứ theo tiêu chí này, dấu hiệu định lượng thiệt hại của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông được chia thành hai loại là dấu hiệu định lượng thiệt hại phản ánh trong cấu thành cơ bản và dấu hiệu định lượng thiệt hại phản ánh trong cấu thành tăng nặng trách nhiệm hình sự.

(1) Dấu hiệu định lượng thiệt hại phản ánh trong cấu thành cơ bản của các điều luật thuộc nhóm tội phạm lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông là những dấu hiệu hậu quả thiệt hại dùng để định tội. Có 6/9 điều luật của nhóm tội này có dấu hiệu định lượng thiệt hại là dấu hiệu định tội, gồm các điều 286, 287, 288, 291, 293, 294. Như vậy, việc quy định định lượng thiệt hại đối với loại tội phạm này khá phổ biến, quy định định lượng tối đa thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật.

(2) Dấu hiệu định lượng thiệt hại dùng để định khung tăng nặng là những dấu hiệu phản ánh hậu quả của tội phạm trong cấu thành tăng nặng của các điều luật của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Tất cả các điều luật thuộc nhóm tội phạm này trong cấu thành tăng nặng đều có dấu hiệu định lượng thiệt hại.

Theo loại thiệt hại khác nhau của tội phạm: Căn cứ theo tiêu chí này, dấu hiệu định lượng thiệt hại của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông theo BLHS năm 2015 được chia thành các loại sau:

(1) Dấu hiệu định lượng thiệt hại về hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thể hiện qua việc cơ quan, tổ chức bị đình trệ hoạt động do tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông gây ra. Thiệt hại được tính bằng số giờ bị đình trệ hoạt động từ 24 giờ trở lên. Dấu hiệu này còn được thể hiện thông qua sự biến đổi xử sự của cá nhân (xử sự tiêu cực) như làm nạn nhân tự sát.

Dấu hiệu này được quy định trong tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều 287 BLHS năm 2015). Đây vừa là dấu hiệu định tội “làm đình trệ hoạt động của cơ quan, tổ chức từ 24 giờ đến 72 giờ” (điểm d khoản 1 Điều 287); vừa là dấu hiệu định khung tăng nặng: Làm đình trệ hoạt động của cơ quan, tổ chức từ 72 giờ đến 168 giờ (điểm g khoản 2 Điều 287) hoặc từ 168 giờ trở lên (điểm e khoản 3 Điều 287 BLHS năm 2015). Đối với dấu hiệu “người bị xâm phạm tự sát” là dấu hiệu định khung tăng nặng thuộc khoản 2 Điều 288 (tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông).

(2) Dấu hiệu định lượng thiệt hại về an toàn thông tin, dữ liệu mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử, có các dạng sau:

Thứ nhất, dấu hiệu định lượng thiệt hại về tính bảo mật của thông tin mạng thể hiện thông qua số lượng thông tin, dữ liệu bị thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai trái phép. Dấu hiệu này vừa là dấu hiệu định tội “thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng từ 20 tài khoản đến dưới 50 tài khoản” (khoản 1 Điều 291); vừa là dấu hiệu định khung tăng nặng nếu thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác từ 50 tài khoản đến dưới 200 tài khoản (điểm a khoản 2 Điều 291) hoặc từ 200 tài khoản trở lên (điểm a khoản 3 Điều 291).

Thứ hai, dấu hiệu định lượng thiệt hại về tính khả dụng của thông tin mạng. Thiệt hại này thể hiện sự tê liệt, gián đoạn, ngưng trệ hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử, được tính theo thời gian từ 30 phút trở lên hoặc theo số lần từ 3 lần trở lên trong thời gian 24 giờ. Đây vừa là dấu hiệu định tội tại điểm c khoản 1 Điều 287 (Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử) và là dấu hiệu định khung tăng nặng điểm e khoản 3, điểm d khoản 3 Điều 287).

(3) Dấu hiệu định lượng thiệt hại là số lượng người dùng, phương tiện điện tử bị ảnh hưởng tính theo số lượng phương tiện hoặc tính theo số người sử dụng. Dấu hiệu này được quy định là dấu hiệu định tội đối với tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (điểm c khoản 1 Điều 286) “làm lây nhiễm từ 50 phương tiện điện tử đến dưới 200 phương tiện điện tử hoặc hệ thống thông tin có từ 50 sử dụng đến dưới 200 người sử dụng”. Dấu hiệu này cũng là dấu hiệu định khung tăng nặng quy định tại điểm d khoản 2, điểm đ khoản 3 Điều 286.

(4) Dấu hiệu định lượng thiệt hại là lợi ích vật chất bị hủy hoại, hư hỏng, mất mát do hành vi phạm tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông gây ra. Thiệt hại này được quy thành một số tiền nhất định. Đây vừa là dấu hiệu định tội, vừa là dấu hiệu định khung tăng nặng phổ biến ở hầu hết các điều luật trong nhóm tội phạm trong lĩnh vực này. Dấu hiệu này là dấu hiệu định tội đối với 5/9 tội, gồm: Điểm b khoản 1 Điều 286, điểm b khoản 1 Điều 287, khoản 1 Điều 288, khoản 1 Điều 293, khoản 1 Điều 294. Dấu hiệu này là dấu hiệu định khung tăng nặng đối với 13/15 khung tăng nặng của 7/9 điều luật trong nhóm tội này (trừ Điều 290, 291), cho thấy mức độ phổ biến của dấu hiệu này trong việc định lượng thiệt hại đối với các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông.

(5) Dấu hiệu định lượng thiệt hại là những lợi ích bất chính mà người phạm tội thu được, chiếm đoạt được. Thiệt hại này được quy thành một khoản tiền nhất định, thể hiện dưới dạng “thu lợi bất chính” hoặc “doanh thu” bất chính hoặc giá trị tài sản mà người phạm tội đã chiếm đoạt. Đây cũng là dấu hiệu khá phổ biến, vừa được coi là dấu hiệu định tội của 3 tội gồm: Điểm a khoản 1 Điều 286, điểm a khoản 1 Điều 287, khoản 1 Điều 291. Dấu hiệu này cũng là dấu hiệu định khung tăng nặng của 12/14 khung tăng nặng của 7/9 điều luật trong nhóm tội này (trừ Điều 293, 294).

(Trích Tạp chí Kiểm sát số 18/2017)

Categories
Kiến thức pháp luật Nghiên cứu và bình luận

Phương pháp định giá tài sản nào là đúng?

Thực tiễn hiện nay việc cách hiểu và áp dụng phương pháp định giá tài sản khác nhau đối với việc định giá loại tài sản bị hủy hoại, hư hỏng nhưng vẫn có khả năng khôi phục lại tình trạng của tài sản trước khi bị hủy hoại, hư hỏng.

Việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự hiện nay được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 30/2017/NĐ-CP ngày 07/3/2018 (Nghị định số 30/2017). Một trong những điểm mới của Nghị định số 30/2017 là quy định rõ hơn về phương pháp định giá tài sản đối với tài sản bị hủy hoại, hư hỏng nhưng vẫn có khả năng khôi phục lại tình trạng của tài sản trước khi bị hủy hoại, hư hỏng tại điểm c khoản 2 Điều 17.

Nội dung vụ việc:

Do mâu thuẫn với ông Nguyễn Văn T nên ngày 12/10/2018, Trần Hoàng Kh sau khi uống rượu đã đi đến nhà của ông T dùng búa đập đập vào cánh cửa nhà của ông T (loại cửa nhôm có nhiều ô lộng kính). Kết quả là 02 cánh cửa nhà ông T bị bễ (vỡ) kính (mỗi cánh cửa bễ một tấm kính có kích thước 30cm x 1,2m x 1cm)”. Giá thị trường mỗi cánh cửa là 4.500.000 đồng; giá trị thị trường mỗi tấm kính có kích thước 30cm x 1,2m x 1cm gắn trên mỗi cánh cửa là 900.000 đồng. Giá trị còn lại của mỗi cánh cửa nhà ông T trước khi bị đập phá là 80%. Việc định giá tài sản trong vụ việc này có hai quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Hành vi của A là hủy hoại tài sản vì A đã dùng búa đập phá cửa kính nhà ông T. Tài sản cần định giá là toàn bộ 02 cánh cửa và thuộc trường hợp tài sản bị hư hỏng một phần nhưng có khả năng khôi phục lại tình trạng của tài sản trước khi bị hư hỏng. Vì vậy, giá trị tài sản bị thiệt hại trong vụ án được tính như sau: 2 x (4.500.000 đồng x 80% x tỷ lệ % mỗi cánh cửa bị hư hỏng)

Quan điểm thứ hai cũng là quan điểm tác giá cho rằng: Tài sản bị Kh gây thiệt hại là 02 tấm kính gắn trên hai cánh cửa nhà ông T chứ không phải là toàn bộ hai cánh cửa nhà ông T. Tại điểm c khoản 2 Điều 17 của Nghị định số 30/2017 có quy định rất rõ là đối với tài sản bị hư hỏng một phần nhưng vẫn có khả năng khôi phục lại tình trạng của tài sản trước khi bị hư hỏng: “Trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu xác định giá trị thiệt hại của tài sản bị hư hỏng một phần, Hội đồng định giá xác định giá trên cơ sở chi phí khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản trước khi bị hư hỏng một phần”.

Như vậy, việc xác định giá trị thiệt hại của tài sản bị hư hỏng một phần là dựa trên cơ sở chi phí khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản. Chi phí khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản có thể hiểu là bao gồm chi phí mua tấm kính và tiền công thuê chở, lắp đặt lại tấm kính vào vị trí tấm kính bị vỡ. Cho nên giá trị thiệt hại của tài sản bị hư hỏng trong vụ án chỉ bao gồm giá trị tài sản bị thiệt hại trước khi bị hư hỏng và chi phí tiền công thuê chở, lắp đặt tấm kính vào vị trí bị bễ và được tính như sau: {2 x (900.000 đồng x 80%)} + chi phí tiền công thuê người chở, lắp đặt 02 tấm kính vào vị trí bị bễ.

(theo Kiểm sát online)

Categories
Kiến thức pháp luật Nghiên cứu và bình luận

Vai trò của Cơ quan công tố trong xử lý tội phạm về ma túy

Bất cứ một vụ án ma tuý của một quốc gia nào cũng đều có đóng góp quan trọng của Cơ quan công tố (Viện công tố/Viện kiểm sát). Mọi hoạt động của Cơ quan công tố đều phải tuân theo quy định của pháp luật.


1. Quy định của luật pháp quốc tế

Vai trò của Công tố viên trong điều tra tội phạm về ma túy được thể hiện rất rõ trong “Các hướng dẫn về vai trò của Công tố viên năm 1990”, được thông qua tại Đại hội Liên hợp quốc lần thứ 8 về Phòng ngừa tội phạm và cách xử lí tội phạm tại Havana, Cuba năm 1990. Các Công tố viên thể hiện vai trò chủ động trong vụ án, gồm tiến hành truy tố và nếu được ủy quyền bởi luật hay tuân theo thực tế nước sở tại trong việc điều tra, giám sát việc thực hiện quyết định của Tòa án và thực hiện các chức năng khác, là đại diện của lợi ích công chúng.

Hoạt động của Cơ quan công tố trong điều tra, truy tố tội phạm ma tuý được thể hiện cuốn Drug Law prosescution and judicial reference hand book (Sổ tay tham khảo về hoạt động tư pháp và truy tố tội phạm ma tuý), của Cơ quan phòng, chống ma tuý và tội phạm Liên hợp quốc (UNODC), năm 2003. Cuốn sổ tay là tài liệu nghiên cứu, tổng hợp và cung cấp hoạt động của những trường hợp truy tố hoặc hoạt động tư pháp của mỗi quốc gia thành viên đã tham gia 3 Công ước của Liên hợp quốc về phòng, chống và kiểm soát ma tuý (năm 1961, 1971, 1988). UNODC cung cấp những thông tin và kinh nghiệm thực tế cho mục đích nghiên cứu nhằm tăng cường sự hiểu biết cơ bản của sự cộng tác đấu tranh chống tội phạm về ma tuý trên toàn cầu. Mỗi quốc gia có Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) khác nhau, có thể theo những hệ thống pháp luật khác nhau, vấn đề xử lí tội phạm ma tuý chủ yếu bằng luật nội địa, song hoạt động xử lý tội phạm về ma tuý đều phải tuân theo các thủ tục của điều tra, truy tố và xét xử để xử lý tội phạm về ma tuý có hiệu quả. Cuốn sách đặc biệt chú ý đến luật pháp và sự hợp tác chống tội phạm ma tuý của 6 nước tiểu vùng sông Mê Kông, trong đó có Việt Nam. Giải quyết các vụ án ma tuý liên quan đến người nước ngoài, Cơ quan Công tố có vai trò đặc biệt quan trọng trong thực hiện các tương trợ tư pháp cũng như yêu cầu tương trợ tư pháp.

Điểm chung nhất của Cơ quan công tố theo pháp luật quốc tế và pháp luật mỗi nước là thay mặt cho nhà nước truy tố đối với người phạm tội về ma túy và là đầu mối tương trợ tư pháp trong giải quyết các vụ án ma túy có yếu tố nước ngoài.

2. Cơ quan công tố các nước Châu Á

Viện kiểm sát nhân dân Trung Quốc

Trung quốc là một quốc gia có hệ thống pháp luật về phòng, chống ma túy đầy đủ, toàn diện. Ngoài BLTTHS, Trung Quốc có Luật phòng, chống ma túy năm 2007, Nghị định về kiểm soát ma túy năm 1987, Nghị định về quản lý các tiền chất, hóa chất năm 2005…

Theo quy định của BLTTHS Trung Quốc, trong giai đoạn điều tra, VKSND kiểm sát thực hiện các hoạt động cụ thể là: kiểm sát việc khởi tố của Cơ quan điều tra, thẩm tra, phê chuẩn lệnh bắt giữ của Cơ quan điều tra. VKSND phải quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn việc bắt giam trong vòng 7 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu phê chuẩn việc bắt giam của Cơ quan điều tra. Nếu VKSND không phê chuẩn việc bắt thì khi nhận được thông báo đó Cơ quan điều tra phải thả ngay và thông báo cho VKSND biết. VKSND có chức năng: kiểm sát việc chấp hành pháp luật của Cơ quan điều tra, đảm bảo việc điều tra được thực hiện đúng pháp luật, khắc phục tình trạng bắt giữ trái phép, ép cung, bức cung, truy tố người phạm tội ra trước Toà án để xét xử.

VKSND cũng có quyền quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh bắt, lệnh tạm giam. Đối với trường hợp VKSND ra quyết định bắt tạm giam thì trong thời hạn 24 giờ sau khi bắt tạm giam Kiểm sát viên phải tiến hành thẩm vấn người bị bắt tạm giam. Theo Điều 117 BLTTHS Trung Quốc thì VKSND có thể kiểm tra hoặc phong toả tài khoản, đồ vật gửi giữ của nghi can theo qui định.

Ở giai đoạn điều tra Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc khởi tố của cơ quan Công an; phê chuẩn lệnh bắt giữ của cơ quan Công an; kiểm sát việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra của cơ quan điều tra, yêu cầu cơ quan Công an cung cấp chứng cứ cần thiết… bảo đảm cho hoạt động điều tra được thực hiện đúng pháp luật; khắc phục tình trạng bắt giữ trái phép, ép cung, bức cung, hãm hại, báo thù, khám xét trái phép, xâm phạm thân thể, quyền dân chủ của công dân.


Chỉ đạo điều tra, truy tố của cơ quan Công tố Nhật Bản

Viện công tố Nhật Bản trong giải quyết án hình sự cũng như án ma tuý theo TTHS: có thẩm quyền tiến hành điều tra; là cơ quan duy nhất có quyền đề nghị Thẩm phán ra lệnh tạm giam; khởi tố, truy tố, tranh tụng tại Toà; giám sát công tác thi hành các bản. Theo BLTTHS, Luật về Viện Công tố và Luật Cảnh sát thì những vụ án do Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển đến, Công tố viên sẽ cân nhắc truy tố hay không truy tố hoặc điều tra bổ sung. Công tố viên có quyền chỉ huy, chỉ đạo đối với Điều tra viên (của Cảnh sát), yêu cầu xử lý kỷ luật Điều tra viên trong trường hợp Điều tra viên không tuân theo chỉ đạo của Công tố viên mà BLHS qui định. Điều 246 Bộ luật này qui định: khi Cảnh sát điều tra tội phạm, cần phải chuyển các vụ án tới Viện Công tố, trừ vụ án ít nghiêm trọng và các vụ án khác do Công tố viên chỉ định. Khi Cảnh sát bắt người để tạm giam, phải trình vụ việc cho Công tố viên trong vòng 48 giờ kể từ khi bị bắt. Nếu Công tố viên cho rằng việc giam giữ là cần thiết thì trong vòng 24 giờ kể từ khi nhận bị can phải yêu cầu Thẩm phán ra lệnh giam giữ bị can, nếu không phải thả ngay bị can. Nếu Công tố viên bắt một bị can, thì phải tuân thủ các thủ tục tương tự trong vòng 48 giờ kể từ khi bắt.

Công tố viên có quyền độc lập xét hỏi bị can hoặc những người tham gia tố tụng khác. Trường hợp một tội phạm nằm trong một số khu vực quản lý của Cảnh sát thì Công tố viên có thể chỉ huy thông thường đối với Cảnh sát trong khu vực quản lý để yêu cầu hợp tác, phối hợp điều tra. Tổng Công tố trưởng, Viện trưởng Viện Công tố có thể yêu cầu Uỷ ban An ninh Nhà nước hoặc Uỷ ban An ninh tỉnh, thành phố cảnh cáo, cách chức đối với Điều tra viên khi Điều tra viên không tuân thủ chỉ thị hoặc chỉ huy của Công tố viên mà không có lý do chính đáng (Điều 194).

Công tố viên có quyền: bắt giam bị can; khám xét và tịch biên, lưu giữ hồ sơ; kiểm tra đối tượng; kiểm soát việc giao nhận, thu chặn các thông tin liên lạc với tội phạm có tổ chức nghiêm trọng; hỏi đối tượng tình nghi và nhân chứng; đề nghị các cá nhân cung cấp thông tin; đề nghị tạm giam, thả đối tượng; lấy lời khai nhân chứng.

Cơ quan Công tố Thái Lan

Trong giai đoạn điều tra vụ án, Cảnh sát điều tra độc lập. Theo qui định của tố tụng hình sự Thái Lan thì Công tố viên chỉ tham gia vào hoạt động tố tụng sau khi Cảnh sát kết thúc việc điều tra và chuyển hồ sơ cho cơ quan Công tố.

Luật về Các biện pháp trấn áp người phạm tội liên quan đến ma túy ở Thái Lan (năm 1991) qui định về hoạt động của Công tố viên: “Sau khi Công tố viên đã ra lệnh truy tố và tài sản bị thu giữ hoặc bị niêm phong theo lệnh của Uỷ ban như qui định ở Điều 22 là tại sao tài sản có dính líu tới hành vi phạm tội liên quan đến ma túy, Công tố viên sẽ làm đơn đề nghị Tòa án ra lệnh tịch biên tài sản đó” (Điều 27). Công tố viên có quyền gửi đơn đề nghị lên Tòa án đề nghị ra lệnh tịch thu đối với mọi dụng cụ, thiết bị, phương tiện đối tượng phạm tội đã sử dụng để vận chuyển máy móc hoặc tài sản khác được sử dụng trong hành vi phạm tội liên quan đến ma túy, hoặc được sử dụng như các phương tiện bổ trợ cho sự phạm tội hoặc bị chiếm hữu để sử dụng trong việc phạm tội, sẽ bị tịch thu, bất kể người đó có bị Tòa án kết tội hay không (Điều 30). Công tố viên xem xét hồ sơ vụ án ma túy của Cảnh sát chuyển đến một cách độc lập, nếu thấy không có chứng cứ để truy tố bị can thì có thể Công tố viên sẽ không đưa vụ việc ra Tòa. Công tố viên có quyền quyết định việc không truy tố, nếu việc truy tố đó không phục vụ lợi ích công cộng.

Cơ quan công tố Vương quốc Campuchia

Luật về kiểm soát ma tuý của Campuchia năm 1994, tại Điều 67 qui định việc kiểm tra, khám xét và thu giữ tại những nơi sản xuất, vận chuyển, tàng trữ trái phép các loại ma tuý cần phải có sự cho phép bằng văn bản của Công tố viên hoặc Thẩm phán điều tra khi vụ án có liên quan đến Công tố viên và Thẩm phán điều tra đó.

Trong quá trình giải quyết vụ án ma tuý “Công tố viên hoặc Thẩm phán điều tra có thể: Tổ chức kiểm soát các tài khoản ngân hàng hoặc tài khoản khác được coi như tài khoản ngân hàng; Tổ chức kiểm soát và nghe lén đường dây điện thoại; Kiểm tra hệ thống máy tính; Yêu cầu cung cấp tất cả các giấy tờ cá nhân đáng tin cậy và các tài liệu ngân hàng, thương mại, tài chính. Khi có đầy đủ bằng chứng chứng minh rằng những tài khoản, đường dây điện thoại hoặc hệ thống máy tính được sử dụng có thể được sử dụng bởi những người bị nghi là tội phạm.

Cơ quan Công tố Philippines

Bộ luật kiểm soát toàn diện các chất ma tuý nguy hiểm năm 2002 của Philippines qui định cụ thể một số hoạt động của Cơ quan Công tố:

Tại Phần 65. Trách nhiệm của Công tố viên trong quá trình tiến hành tố tụng qui định: “Công tố viên cấp tỉnh hoặc thành phố hoặc trợ lí của họ hoặc Kiểm sát viên cấp nhà nước có trách nhiệm chuẩn bị Cáo trạng trong quá trình xét xử”.

Phần 90, Chương XI thẩm quyền xét xử các vụ án ma tuý nguy hiểm, Công tố viên có thẩm quyền tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu: “Sẽ bổ nhiệm các Công tố viên đặc biệt chuyên thụ lí các vụ án liên quan đến các hành vi vi phạm Luật này. Hoạt động điều tra ban đầu đối với các vụ án bị khởi tố theo Luật này sẽ phải hoàn thành trong vòng 30 ngày kể từ khi khởi tố vụ án.” Khi đã có đủ chứng cứ buộc tội, Công tố viên đệ trình lên Toà án trong vòng 24 giờ kể từ thời điểm kết thúc điều tra.

Cơ quan công nước Cộng hoà Indonexia

Ngoài qui định của BLTTHS, Luật phòng, chống ma tuý của nước Cộng hoà Indonexia qui định về hoạt động của Văn phòng Chưởng lý như sau:

Khi tiến hành tiêu huỷ chất ma tuý, Cơ quan điều tra Cảnh sát Quốc gia sẽ tiến hành với sự tham gia của các quan chức Văn phòng Trưởng lý khu vực sẽ quyết định có sử dụng hiện vật bị thu giữ làm bằng chứng chứng minh trong vụ án xét xử không hoặc cho tiêu huỷ trong vòng không quá 7 ngày kể từ khi nhận được thông báo về việc thu giữ hiện vật từ Điều tra viên.

Tổng Chưởng lý yêu cầu và thủ tục về thực thi thẩm quyền sử dụng hiện vật (ma tuý) bị thu giữ làm bằng chứng chứng minh trong xét xử vụ án hoặc hiện vật là ma tuý đem tiêu huỷ. Điều 63 và Điều 64 của Luật này qui định việc điều tra, truy tố, xét xử tội phạm ma tuý trước Toà án sẽ được tiến hành theo qui định của pháp luật hiện hành, trừ trường hợp Luật này qui định khác. Các vụ án về ma tuý sẽ được ưu tiên đưa ra Toà án để xét xử và giải quyết trong thời gian ngắn nhất.

Mỗi quốc gia Châu Á có quy định khác nhau trong xử lý tội phạm về ma tuý, song nhìn chung các quốc gia đều coi đó là vấn đề trọng yếu của phòng, chống tội phạm, phải tăng cường hợp tác đấu tranh kiên quyết chống loại tội phạm này.

(Theo Kiểm sát Online)

Categories
Hệ thống VBPL Kiến thức pháp luật

12 loại phụ cấp dành riêng cho cán bộ, công chức

Danh sách 12 loại phụ cấp lương áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức… được tổng hợp tại Văn bản hợp nhất 04/NĐHN-BNV ngày 22/07/2014. Cụ thể:

1. Phụ cấp thâm niên vượt khung

Áp dụng đối với một số đối tượng đã xếp bậc lương cuối cùng trong ngạch hoặc trong chức danh. Mức phụ cấp bằng 5% mức lương của bậc lương cuối cùng. Tùy vị trí cụ thể, từ năm thứ ba hoặc năm thứ tư trở đi mỗi năm được tính thêm 1%.

– Trường hợp không hoàn thành nhiệm vụ hoặc bị kỷ luật hình thức khiển trách hoặc cảnh cáo thì bị kéo dài thêm 06 tháng tính hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung so với thời gian quy định;

– Trường hợp bị kỷ luật giáng chức hoặc cách chức thì bị kéo dài thêm 12 tháng tính hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung so với thời gian quy định.

2. Phụ cấp kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo

Áp dụng đối với các đối tượng đang giữ chức danh lãnh đạo ở một cơ quan, đơn vị, đồng thời được bầu cử hoặc được bổ nhiệm kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo đứng đầu cơ quan, đơn vị khác mà cơ quan, đơn vị này được bố trí biên chế chuyên trách người đứng đầu nhưng hoạt động kiêm nhiệm.

Mức phụ cấp bằng 10% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có). Kiêm nhiệm nhiều chức danh lãnh đạo cũng chỉ hưởng 01 mức phụ cấp.

3. Phụ cấp khu vực

Áp dụng đối với các đối tượng làm việc ở những nơi xa xôi, hẻo lánh và khí hậu xấu.

Phụ cấp gồm 07 mức: 0,1; 0,2; 0,3; 0,4; 0,5; 0,7 và 1,0 so với mức lương cơ sở. Đối với hạ sĩ quan và chiến sĩ nghĩa vụ thuộc lực lượng vũ trang, phụ cấp khu vực được tính so với mức phụ cấp quân hàm binh nhì.

4. Phụ cấp đặc biệt

Áp dụng đối với các đối tượng làm việc ở đảo xa đất liền và vùng biên giới có điều kiện sinh hoạt đặc biệt khó khăn.

Phụ cấp gồm 03 mức: 30%; 50% và 100% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) hoặc phụ cấp quân hàm hiện hưởng đối với hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang.

5. Phụ cấp thu hút

Áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức đến làm việc ở những vùng kinh tế mới, cơ sở kinh tế và đảo xa đất liền có điều kiện sinh hoạt đặc biệt khó khăn.

Phụ cấp gồm 4 mức: 20%; 30%; 50% và 70% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có). Thời gian hưởng phụ cấp từ 3-5 năm.

6. Phụ cấp lưu động

Áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức làm việc ở một số nghề hoặc công việc thường xuyên thay đổi địa điểm làm việc và nơi ở.

Phụ cấp gồm 3 mức: 0,2; 0,4 và 0,6 so với mức lương tối thiểu chung.

7. Phụ cấp độc hại, nguy hiểm

Áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức làm những nghề hoặc công việc có điều kiện lao động độc hại, nguy hiểm và đặc biệt độc hại, nguy hiểm chưa được xác định trong mức lương.

Phụ cấp gồm 4 mức: 0,1; 0,2; 0,3 và 0,4 so với mức lương cơ sở.

8. Các chế độ phụ cấp đặc thù theo nghề hoặc công việc

a) Phụ cấp thâm niên nghề:

Áp dụng đối với sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp thuộc quân đội nhân dân, sĩ quan và hạ sĩ quan hưởng lương thuộc công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu trong tổ chức cơ yếu và cán bộ, công chức đã được xếp lương theo các ngạch hoặc chức danh chuyên ngành: Hải quan, tòa án, kiểm sát, kiểm toán, thanh tra, thi hành án dân sự, kiểm lâm.

Mức phụ cấp: Sau 5 năm (đủ 60 tháng) tại ngũ hoặc làm việc liên tục trong ngành cơ yếu, hải quan, tòa án, kiểm sát, kiểm toán, thanh tra, thi hành án dân sự, kiểm lâm thì được hưởng phụ cấp thâm niên nghề bằng 5% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có); từ năm thứ 06 trở đi mỗi năm được tính thêm 1%.

b) Phụ cấp ưu đãi theo nghề:

Áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức làm những nghề hoặc công việc có điều kiện lao động cao hơn bình thường, có chính sách ưu đãi của Nhà nước mà chưa được xác định trong mức lương.

Phụ cấp gồm 10 mức: 5%, 10%, 15%, 20%, 25%, 30%, 35%, 40%, 45% và 50% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).

c) Phụ cấp trách nhiệm theo nghề:

Áp dụng đối với các chức danh xếp lương theo bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ và bảng lương chức vụ thuộc ngành Tòa án, Kiểm sát, Thanh tra và một số chức danh tư pháp.

Phụ cấp gồm 5 mức: 10%; 15%; 20%, 25% và 30% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).

Đối tượng được hưởng chế độ phụ cấp trách nhiệm theo nghề quy định tại điểm này thì không hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề quy định tại Điểm b Khoản 8 Điều này.

d) Phụ cấp trách nhiệm công việc:

Những người làm việc trong tổ chức cơ yếu được hưởng phụ cấp trách nhiệm công việc bảo vệ cơ mật mật mã. Phụ cấp gồm 3 mức: 0,1; 0,2 và 0,3 so với mức lương tối thiểu chung.

Những người làm những công việc đòi hỏi trách nhiệm cao hoặc đảm nhiệm công tác quản lý không thuộc chức danh lãnh đạo (bầu cử, bổ nhiệm) thì được hưởng phụ cấp trách nhiệm công việc. Phụ cấp gồm 4 mức: 0,1; 0,2; 0,3 và 0,5 so với mức lương tối thiểu chung.

đ) Phụ cấp phục vụ quốc phòng, an ninh:

Áp dụng đối với một số đối tượng làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang và cơ yếu. Phụ cấp gồm 2 mức: 30% và 50% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).

Ngày 21/05/2018, Ban Chấp hành Trung ương đã có Nghị quyết 27-NQ/TW của về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp. Trong đó, yêu cầu sắp xếp lại các chế độ phụ cấp hiện hành, bãi bỏ một số loại phụ cấp của cán bộ, công chức, viên chức… bảo đảm tổng quỹ phụ cấp chiếm tối đa 30% tổng quỹ lương.

(Theo Tri Thức Trẻ)

Categories
Kiến thức pháp luật Tư vấn pháp luật

Đăng ký bảo hộ bản quyền tác giả: Hồ sơ, trình tự thủ tục mới nhất

Đăng ký bảo hộ bản quyền tác giả: Hồ sơ, trình tự thủ tục mới nhất. Đăng ký bảo hộ bản quyền tác giả giúp đảm bảo quyền của chủ sở hữu như thế nào?

Mỗi tác phẩm cho dù là tác phẩm văn học (ví dụ truyện ngắn, thơ, ca), công trình nghiên cứu khoa học, hay tác phẩm nghệ thuật (ví dụ bài hát, kịch bản)… đều là những đứa con tinh thần, là tâm huyết, là sản phẩm trí óc của mỗi tác giả, mang dấu ấn cá nhân riêng đặc biệt của từng tác giả. Không một ai, sau khi bỏ rất nhiều tâm huyết và công sức lại mong muốn bị người khác “ăn cắp”, sao chép, hay sử dụng trái phép tác phẩm của mình. Chính bởi vậy, việc đăng ký bảo hộ quyền tác giả (hay còn gọi là đăng ký quyền tác giả) là một trong những giải pháp hữu hiệu mà những tác giả thường tìm đến khi muốn bảo vệ tác phẩm của mình. Vậy Đăng ký bảo hộ quyền tác giả là gì? Về vấn đề này, trong phạm vi bài viết này, đội ngũ luật sư và chuyên gia luật Liên Việt sẽ đề cập đến việc đăng ký bảo hộ quyền tác giả và trình tự, thủ tục để đăng ký bảo hộ quyền tác giả.

Hiện nay, trong quy định của pháp luật hiện hành, việc Đăng ký bảo hộ quyền tác giả và trình tự, thủ tục để đăng ký bảo hộ quyền tác giả được quy định cụ thể tại Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009, Nghị định 22/2018/NĐ-CP.

Thứ nhất, về khái niệm Đăng ký bảo hộ bản quyền tác giả (Đăng ký quyền tác giả)

Quyền tác giả, theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 được hiểu là một trong những quyền sở hữu trí tuệ, thể hiện quyền của một tổ chức, cá nhân đối với những tác phẩm do họ sáng tạo ra hoặc có quyền sở hữu với nó. Trên cơ sở khái niệm này, theo quy định tại Điều 3 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009, đối tượng quyền tác giả sẽ bao gồm: tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật.

Mỗi một tác phẩm kể từ khi “ra đời” (kể từ thời điểm sáng tác”) và được thể hiện dưới một dạng hình thức nhất định thì đã đương nhiên phát sinh quyền tác giả đối với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm này. Mỗi một tác phẩm, không phân biệt nội dung,chất lượng hay được thể hiện dưới phương tiện, hình thức như thế nào, hay sử dụng ngôn ngữ nào, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký thì đều phát sinh quyền tác giả đối với tác phẩm này kể từ thời điểm tác phẩm được ra đời và tồn tại trong thế giới khách quan.

Vậy bảo hộ bản quyền tác giả là gì? Mặc dù trong quy định của Luật sở hữu trí tuệ và các văn bản pháp lý có liên quan không có quy định trực tiếp giải thích khái niệm “bảo hộ quyền tác giả “, mà chỉ quy định những thủ tục, điều kiện, hồ sơ để bảo hộ quyền tác giả. Tuy nhiên, căn cứ vào khái niệm “bảo hộ” được định nghĩa trong từ điển tiếng Việt online, kết hợp với những quy định chung trong Luật sở hữu trí tuệ có thể hiểu: Bảo hộ bản quyền tác giả (bảo hộ quyền tác giả) là tổng hợp tất cả các quy định, chế định pháp lý của pháp luật, thể hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm đối với tác phẩm mà họ sáng tạo ra hoặc sở hữu.

Trong đó, chủ thể được bảo hộ quyền tác giả được xác định theo quy định tại Điều 13 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, Điều 6 Nghị định 22/2018/NĐ-CP được xác định là những tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm hoặc họ là đồng tác giả, hoặc là chủ sở hữu của tác phẩm này. Tác phẩm được bảo hộ phải là tác phẩm được công bố đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam; hoặc được công bố tại Việt Nam gần như cùng với thời điểm công bố đầu tiên ở nước khác (Lưu ý, thời gian công bố tại Việt Nam được xác định là hợp lệ là trong khoảng thời gian 30 ngày tính từ ngày đầu tiên công bố tác phẩm này tại nước khác). Chủ thể được bảo hộ quyền tác giả cũng còn được xác định là những tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà nước Việt Nam là một trong những thành viên tham gia điều ước này.

Trên cơ sở này, “đăng ký bảo hộ bản quyền tác giả” (hay còn gọi là đăng ký quyền tác giả) theo quy định tại Điều 49 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 được hiểu là việc tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện việc nộp hồ sơ đăng ký lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ghi nhận các thông tin về tác giả tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả, đồng thời qua đó nhằm được pháp luật bảo vệ và đảm bảo quyền tác giả của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm này.

Thứ hai, về Hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký bảo hộ bản quyền tác giả

Căn cứ theo quy định tại Điều 50 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, hồ sơ đăng ký bảo hộ quyền tác giả (hay còn được xác định là đăng ký quyền tác giả) sẽ bao gồm những giấy tờ sau:

– Tờ khai đăng ký quyền tác giả (theo mẫu).

– Bản sao tác phẩm đăng ký quyền tác giả (02 bản).

– Trường hợp tác phẩm này do nhiều người cùng sáng tác thì phải có thêm văn bản đồng ý của các đồng tác giả.

– Trường hợp quyền tác giả thuộc sở hữu chung của nhiều người đồng sở hữu thì phải có thêm văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu chung quyền tác giả của tác phẩm này.

– Nếu tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả không tự mình nộp đơn mà ủy quyền cho người khác thì trong hồ sơ phải có Giấy ủy quyền.

– Trường hợp nếu một người được thừa hưởng quyền tác giả đối với tác phẩm từ người khác thông qua việc được thừa kế, thừa hưởng, chuyển giao và người này thực hiện việc trực tiếp nộp đơn thì sẽ cần phải có thêm giấy tờ chứng minh quyền nộp đơn.

Những tài liệu được xác định ở trên, cụ thể như Giấy ủy quyền, hoặc Tài liệu chứng minh quyền tác giả, hoặc Văn bản đồng ý của các đồng tác giả, đồng chủ sở hữu phải được thể hiện bằng tiếng Việt, trường hợp thể hiện bằng tiếng nước ngoài thì phải được dịch ra Tiếng Việt.

Sau khi chuẩn bị đầy đủ hồ sơ đăng ký quyền tác giả theo nội dung xác định như trên thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc người được tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả ủy quyền sẽ nộp hồ sơ lên Cục Bản quyền tác giả thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả theo quy định tại Điều 51 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, Điều 35 Nghị định 22/2018/NĐ-CP.

Sau khi nhận được hồ sơ đăng ký quyền tác giả hợp lệ từ chủ sở hữu quyền tác giả, tác giả hoặc người được chủ sở hữu quyền tác giả, tác giả ủy quyền thì trong thời hạn kể từ ngày nhận được hồ sơ,thì Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (cụ thể là Cục Bản quyền tác giả) sẽ phải cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả cho người nộp đơn. Trường hợp từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả thì cơ quan này phải thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn.

Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả được xác định như một văn bằng bảo hộ, thể hiện sự bảo vệ của Nhà nước và pháp luật đối với quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả với “đứa con tinh thần” do họ sáng tạo ra. Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam và được ghi nhận trong Sổ đăng ký quốc gia về quyền tác giả.

Như vậy, qua phân tích nêu trên, có thể thấy, mặc dù việc nộp hồ sơ để đăng ký cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả không phải là thủ tục bắt buộc để cho chủ sở hữu quyền tác giả, tác giả được hưởng quyền tác giả đối với sản phẩm, tác phẩm do mình sáng tạo ra, nhưng đó lại là căn cứ để pháp luật có thể nhận biết, xác định và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, tránh được những hành vi lạm dụng, sao chép, cắt xén, xâm phạm đến tác phẩm – “đứa con tinh thần” mà tác giả đã sáng tạo nên. Chính bởi vậy, mỗi tác giả khi sáng tạo nên một tác phẩm nên thực hiện việc đăng ký quyền tác giả.

(Theo Tri Thức Trẻ)

Categories
Kiến thức pháp luật Nghiên cứu và bình luận

Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

Trong một số trường hợp nhất định, xuất phát từ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, pháp luật quy định cho phép người bị hại lựa chọn quyền yêu cầu khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự.

Đó là những trường hợp mà hành vi phạm tội vừa xâm phạm trật tự xã hội, vừa xâm phạm đến thể chất, sức khoẻ, danh dự của người bị hại. Những trường hợp này nếu khởi tố vụ án, lợi ích về mặt xã hội có thể không lớn mà còn có khả năng làm tổn thương thêm về mặt tinh thần cho người bị hại. Vì vậy, nhà làm luật đã xác lập một khả năng, điều kiện để người bị hại cân nhắc, quyết định có yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý về mặt hình sự đối với hành vi phạm tội hay không. Với quy định đó, nhà làm luật tạo điều kiện cho người phạm tội có cơ hội thuận lợi để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra, hạn chế việc gây thêm những tổn thất, mất mát về mặt tinh thần, danh dự không cần thiết có thể có đối với người bị hại.

Điều 155 BLTTHS năm 2015 quy định:

“1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”

Đây là một quy định vừa mang tính kế thừa của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, vừa có sự sửa đổi, bổ sung:

Một điểm mới đáng chú ý trong BLTTHS năm 2015 là quy định cơ chế sử dụng quyền yêu cầu của người bị hại trong khởi tố vụ án hình sự. Khoản 2 Điều 155 BLTTHS năm 2015 quy định: “Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ…”.

Như vậy, so với quy định trong BLTTHS năm 2003 thì BLTTHS năm 2015 đã có tiến bộ hơn khi mở rộng quyền rút yêu cầu của người bị hại là người bị hại được quyền rút yêu cầu bất cứ lúc nào trong suốt quá trình tố tụng từ giai đoạn điều tra, truy tố đến xét xử (Khoản 2 Điều 105 BLTTHS năm 2003 quy định người bị hại chỉ được rút yêu cầu trước khi mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án mới được đình chỉ).

Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155… (điểm a khoản 1 Điều 230 BLTTHS); trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155… (khoản 1 Điều 248 BLTTHS); trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155… (điểm a khoản 1 Điều 282 BLTTHS).

Ngoài ra, một quy định mới khác của BLTTHS năm 2015 về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại tiến bộ hơn quy định của BLTTHS năm 2003 là tại khoản 1 Điều 155 đã bỏ một tội được khởi tố theo yêu cầu người bị hại là tội “Xâm phạm quyền tác giả” (Khoản 1 Điều 105 BLTTHS năm 2003 quy định tội này chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại).

Việc BLTTHS năm 2015 bãi bỏ điều luật này mang lại một tín hiệu tích cực, vì thực trạng hiện nay quyền tác giả đang bị xâm phạm ngày càng nhiều và nghiêm trọng cũng như hành vi xâm phạm ngày càng tinh vi, phức tạp hơn, thậm chí việc xâm phạm diễn ra nhưng tác giả vẫn không hay biết. Do đó, hành vi xâm phạm này cần được bảo vệ mà không cần phải có yêu cầu của người bị hại nhằm bảo vệ tốt hơn quyền tác giả, quyền liên quan và phù hợp với tình hình mới.

(Theo Kiểm sát online)

Categories
Hệ thống VBPL Khác Kiến thức pháp luật Tin tức trong nước

Thông tư 01/2019/TT-BLĐTBXH: Mức độ khuyết tật

Thông tư 01/2019/TT-BLĐTBXH được ban hành ngày 02/01/2019 có quy định về việc xác định mức độ khuyết tật.

Thông tư này có nêu rõ những trường hợp cần phải làm thủ tục cấp đổi, cấp lại Giấy xác nhận khuyết tật.
Cụ thể, những trường hợp sau đây cần phải làm thủ tục cấp đổi Giấy xác nhận khuyết tật:

– Giấy xác nhận khuyết tật sai thông tin so với Chứng minh nhân dân, căn cước công dân hoặc giấy tờ có giá trị hợp pháp khác.

– Giấy xác nhận khuyết tật hư hỏng không sử dụng được.

Người khuyết tật cũng cần làm thủ tục cấp lại Giấy xác nhận khuyết tật trong các trường hợp:

– Thay đổi dạng khuyết tật hoặc mức độ khuyết tật.

– Mất Giấy xác nhận khuyết tật.

– Người khuyết tật từ đủ 6 tuổi trở lên trừ trường hợp người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định.
Riêng đối với trường hợp đã được cấp Giấy xác nhận khuyết tật nhưng cơ quan có thẩm quyền kết luận không đúng dạng khuyết tật, mức độ khuyết tật thì phải thu hồi Giấy xác nhận khuyết tật.

Thông tư 01/2019/TT-BLĐTBXH
 

(Theo Tri Thức Trẻ)

Categories
Kiến thức pháp luật Tư vấn pháp luật

Thành lập hợp tác xã vận tải: Điều kiện, hồ sơ, trình tự thủ tục

Nhắc đến hợp tác xã thì mọi người hay nghĩ đến những ngành nghề trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, sản xuất lâm nghiệp, ngư nghiệp…mà ít ai nghĩ đến các ngành nghề khác. Hợp tác xã đóng một vai trò to lớn rất quan trọng trong quá trình tham gia kinh doanh vận tải các cá nhân và tổ chức trong các thành phần kinh tế. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết để thành lập một hợp tác xã vận tải là như thế nào? bắt đầu từ đâu? ai có thẩm quyền cho phép thành lập? cần những hồ sơ giấy tờ gì? điều kiện thành lập ra sao? trình tự, thủ tục gồm những gì? đó là những băn khoăn của những ai đang muốn kinh doanh theo ngành nghề này.

Nguyên tắc tự nguyện là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khi có nhu cầu hợp tác, nhu cầu sử dụng dịch vụ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và không tổ chức nào có quyền ép buộc bất kỳ ai phải tham gia vào hợp tác xã. Việc quy định các nguyên tắc đặt ra trách nhiệm đối với các thành viên hợp tác xã để cùng nhau phát huy các tinh thần để cùng nhau xây dựng tập thể trong các lĩnh vực kinh tế xã hội.

Điều kiện thành lập hợp tác xã vận tải

Trước tiên, để được thành lập một hợp tác xã cũng như một hợp tác xã vận tải thì việc đầu tiên là phải vận động cho mọi người tham gia hợp tác xã, tuyên truyền để có đủ ít nhất 7 thành viên hợp tác và tự nguyện, tham gia và thành lập hợp tác xã.
Đối với Hợp tác xã kinh doanh dịch vụ vận tải phải đảm bảo điều kiện chung theo quy định tại Nghị định 86/2014/NĐ-CP

+ Các cá nhân, tổ chức, cơ quan phải thực hiện đăng ký kinh doanh vận tải bằng xe ô tô theo quy định của pháp luật.

Pháp luật quy định về chất lượng và số lượng các phương tiện kinh doanh vận tải phải bảo đảm đầy đủ để phù hợp với hình thức kinh doanh của hợp tác xã vận tải, cụ thể như sau:

+ Các phương tiện vận tải như ôtô các loại phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân, tổ chức về quyền chiếm hữu, sở hữu và định đoạt theo quy định về pháp luật dân sự theo hợp đồng của đơn vị kinh doanh vận tải khi ký kết hợp đồng với các cá nhân tổ chức cho thuê tài chính hoặc các tài sản của tổ chức, cá nhân có chức năng cho thuê lại tài sản theo quy định của pháp luật. Các hợp tác xã vận tải phải có đủ số lượng các phương tiện để kinh doanh vận tải đã được duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.theo phương án sản xuất kinh doanh.

Trong trường hợp xe đăng ký thuộc sở hữu của các cá nhân là thành viên hợp tác xã phải có hợp đồng dịch vụ giữa các thành viên với hợp tác xã theo quy định pháp luật, trong đó quy định hợp tác xã có quyền quản lý và trách nhiệm, nghĩa vụ quản lý, sử dụng xe, điều hành xe ô tô thuộc sở hữu của thành viên hợp tác xã.

+ Các xe ô tô phải bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới khi tham gia giao thông đường bộ.

+ Các xe phải được gắn thiết bị giám sát hành trình để đảm bảo việc kinh doanh vận tải.

+ Các lái xe và nhân viên phục vụ trên xe không có tiền án hay mất năng lực hành vi dân sự và không phải là người đang bị cấm hành nghề theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

+ Các nhân viên phục vụ trên xe và các lái xe phải được ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với hợp tác xã và hợp tác xã phải yêu cầu cầu lái xe được tập huấn về nghiệp vụ và các quy định của pháp luật đối với hoạt động vận tải theo quy định của Bộ Giao thông vận tải (trừ các trường hợp đồng thời là chủ hộ kinh doanh hoặc là bố, mẹ, vợ, chồng hoặc con của chủ hộ kinh doanh)

+ Khi thành lập hợp tác xã vận tải thì theo quy định yêu cầu người điều hành vận tải đối với các chuyên ngành khác như kinh tế, kỹ thuật khác theo quy định phải có thời gian công tác liên tục tại đơn vị vận tải từ 03 năm trở lên khi làm thủ tục thành lập hợp tác xã và có trình độ chuyên môn về vận tải từ trung cấp trở lên đổi với chuyên ngành vận tải.

+ Hợp tác xã kinh doanh vận tải phải đáp ứng đủ điều kiện về nơi đỗ xe phù hợp theo quy định của Luật giao thông đường bộ, phòng chống cháy, nổ theo quy định của Luật phòng cháy chữa cháy và vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật về môi trường và phù hợp với phương án kinh doanh.

– Về tổ chức, quản lý:

+ Các hợp tác xã kinh doanh vận tải có phương tiện thuộc diện bắt buộc phải gắn thiết bị giám sát hành trình của xe phải trang bị máy tính, đường truyền kết nối mạng và phải theo dõi, xử lý thông tin tiếp nhận từ thiết bị giám sát hành trình của xe

+ Hợp tác xã phải chịu trách nhiệm tổ chức khám sức khỏe định kỳ hằng năm cho các lái xe và sử dụng các lái xe có đủ sức khỏe theo quy định của bộ luật lao động và bố trí cho đủ số lượng các nhân viên lái xe theo phương án kinh doanh khi làm thủ tục thành lập.

+ Các hợp tác xã kinh doanh vận tải hành khách cần phải tổ chức các bộ phận quản lý khi kinh doanh vận tải và theo dõi cụ thể về các điều kiện về an toàn giao thông theo quy định của pháp luật giao thông.

+ Các hợp tác xã kinh doanh vận tải hành khách phải thực hiện theo đúng quy chuẩn phù hợp với chất lượng, số lượng dịch vụ khi kinh doanh dịch vụ vận chuyển hành khách và phải đăng ký theo quy định của pháp luật

Trình tự và hồ sơ thành lập hợp tác xã vận tải

Theo quy định của Luật hợp tác xã 2012 quy định về hồ sơ đăng ký hợp tác xã nói chung và hợp tác xã kinh doanh vận tải nói riêng bao gồm các giấy tờ như sau:

+ Giấy đề nghị đăng ký hợp tác xã theo mẫu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

+ Điều lệ hoạt động của hợp tác xã khi thành lập hợp tác xã.

+ Phương án sản xuất, chiến lược kinh doanh của hợp tác xã

+ Các thông tin về tên và địa chỉ của các thành viên tham gia vào hợp tác xã trong danh sách thành viên và các thông tin về nhân thân trong danh sách hội đồng quản trị, giám đốc, ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên của hợp tác xã.

+ Nội dung bản nghị quyết hội nghị thành lập hợp tác xã.

Sau khi các cơ quan, tổ chức, cá nhân nộp đầy đủ hồ sơ đầy đủ lên ủy ban nhân dân cấp quận, huyện thì trong thời hạn 05 ngày làm việc cấp giấy chứng nhận đăng ký theo đúng thời hạn cho người thành lập hợp tác xã, kể từ ngày nhận được hồ sơ, trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Để được hoạt động và kinh doanh vận tải thì sau khi hợp tác xã đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì phải làm thủ tục xin giấy phép kinh doanh vận tải để đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh bao gồm:

+ Hợp tác xã phải làm đơn đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh theo mẫu do cơ quan có thẩm quyền quy định.

+ Sao y bản chính giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của hợp tác xã.

+ Hợp tác xã nộp sao y bản chính hoặc bản sao kèm bản chính để đối chiếu của các văn bằng, chứng chỉ của người đứng đầu trực tiếp điều hành vận tải

+ Hợp tác xã phải nộp phương án kinh doanh vận tải bằng xe ô tô theo quy định của pháp luật.

Khi chuẩn bị hồ sơ hợp lệ thì hợp tác xã thì nộp lên sở giao thông vận tải nơi có trụ chính để được cấp giấy kinh doanh vận tải. Sau đó thì hợp tác sẽ có đủ điều kiện để kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Trên đây là quy trình, thủ tục, trình tự và hồ sơ để thành lập một hợp tác xã kinh doanh vận tải theo quy định của của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu làm đúng quy định thì các cá nhân, cơ quan, tổ chức sẽ tiết kiệm được thời gian, công sức và chi phí khi làm thủ tục thành lập để có thể bắt đầu kinh doanh theo dự định kế hoạch đã đề ra và thực hiện theo quy định của pháp luật khi kinh doanh.

(Theo Tri Thức Trẻ)